UNCLENGUYEN.COM UNCLENGUYEN.COM
(VUI LÀ CHÍNH)
 
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Đăng kýĐăng ký 
 Lý lịchLý lịch   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng NhậpĐăng Nhập 

CÓ NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT KHÔNG?

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    UNCLENGUYEN.COM -> Vietnamese Legend & Folklore
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
P. Kim Long



Ngày tham gia: 27 1 2007
Số bài: 122
Đến từ: Vietnam

Bài gửiGửi: Tư 9 04, 2013 10:15 pm    Tiêu đề: CÓ NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT KHÔNG? Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÓ NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT KHÔNG?
Tác giả: P. Kim Long

Tôi không phải là văn pháp gia hay ngôn ngữ gia, còn Giáo sư Cao Xuân Hạo lại được giới trí thức miền Bắc nể phục và được Nhà Nước phong hàm làm Nhà Giáo Ưu tú hay Nhân dân gì đó. Tôi chỉ là một người bình thường, song vì mưu sinh phải hoàn thành việc dịch thuật một số tài liệu Hán ngữ cổ (Hoàng Đế Nội Kinh và Tố Nữ Kinh) sang Anh ngữ nên đã tình cờ nhận thấy văn pháp của hai ngôn ngữ này có vài điểm tương đồng khá thú vị. Do vậy, tôi mới thắc mắc sau khi đọc xong cuốn Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt (nhà xuất bản Trẻ, 2001) của giáo sư Cao Xuân Hạo về chủ đề ngữ pháp nhất là khi Giáo sư phủ nhận sự hiện hữu của ngữ pháp tiếng Việt. Chính vì lý do đó, tôi mới nêu lên một vài vấn đề sau đây.
1. Quan điểm của Giáo sư Cao Xuân Hạo
Giáo sư CXH thẳng tay chê trách dân Đông phương đã ngu xuẩn vơ tất cả những gì của Tây phương về làm khuôn mẫu cho mình: “Tiêu biểu nhất trong các hiện tượng ngược đời từ đó nảy sinh ra là việc người phương Đông cố sức mô tả ngôn ngữ của mình sao cho thật phù hợp với cái mô hình mà họ đã được làm quen trong khi học các ngôn ngữ phương Tây, bất chấp mấy trăm ngàn sự kiện mà họ chứng kiến và thể nghiệm hàng ngày trong khi dùng tiếng mẹ đẻ. Ngôn ngữ là một lĩnh vực trong đó tác hại của cách nhìn Âu châu lộ rõ nhất, và những tác hại lớn nhất của cách nhìn này đều gắn bó với hai chữ chủ từ.” (sách đã dẫn, trang 148)
1.1. Người Việt viết sai câu
Giáo sư CXH đã mạt sát thậm tệ một số soạn giả sách ngữ pháp tiếng Việt vì họ đã cố tình bóp méo ngữ pháp tiếng Việt vào trong khuôn mẫu của ngữ pháp tiếng Pháp khiến ngữ pháp Việt ngữ trở thành một thứ lai căng hoàn toàn tách xa văn phong và mẫu mực của văn chương dân gian: họ đã bắt ngữ pháp Việt ngữ phải tuân theo những quy luật vô lý của mẫu mực ngữ pháp trong Pháp ngữ hay La Tinh cổ. Giáo sư đã đổ tội cho nhà trường… khiến học sinh khi lên tới cấp 3 vẫn chưa biết cách viết đúng được một câu: “Nhiều cán bộ lãnh đạo nền giáo dục của ta đã thấy rõ tính vô hiệu quả của cách dạy tiếng Việt ở nhà trường: vào đại học, nhiều sinh viên chưa biết viết một bức thư cho đúng ngữ pháp và chính tả” (sách đã dẫn, trang 14). Ngoài ra, có một vài người còn mạnh miệng đề nghị bỏ hẳn môn Việt ngữ trong chương trình giáo dục vì xét thấy rất vô ích: “Và tôi cũng được nghe chính người thầy cũ của tôi (một Nhà Giáo Nhân dân) phát biểu trong một cuộc hội nghị do Bộ tổ chức là nên bỏ hẳn môn tiếng Việt ở trường phổ thông để dành thì giờ học những môn có ích hơn hay ít ra cũng không có hại bằng.” (sách đã dẫn, trang 14)
1.2. Kết tội Thực dân Pháp
Giáo sư CXH đã tìm ra nguyên nhân vì sao mọi học sinh và sinh viên lại kém Việt ngữ đến thế, đó là chính sách ngu dân của Thực dân Pháp khi xưa: “Một trong những cái tội lớn nhất của thực dân Pháp là nền giáo dục mà họ đã áp đặt cho dân ta. Nền giáo dục ấy không nhằm đào tạo một đội trí thức. Nó chỉ nhằm đào tạo ra một lớp nha lại. Ngay như môn tiếng Pháp, họ cũng không thèm quan tâm sửa đổi cho kịp với sự tiến bộ của khoa học. Cái ngữ pháp tiếng Pháp mà họ dạy cho học sinh của ta là thứ ngữ pháp cổ lỗ của thời đại trước đại chiến thứ nhất, vốn không tiến xa hơn những tri thức có từ thế kỷ XVIII. Điều này rất rõ đối với bất kỳ ai đã từng so sánh sách dạy tiếng Pháp ở Đông Dương năm 1945 với sách dạy tiếng Pháp cũng vào năm ấy (mà chỉ có một số rất ít học sinh Việt Nam học trong trường Pháp được học).” (sách đã dẫn, trang 15 & 16)
1.3. Ngu muội & nô lệ của soạn giả Việt Nam
Giáo sư CXH đã chê trách ba ông Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm vì đã đề xuất một ngữ pháp tiếng Việt sai lầm trong cuốn Ngữ Pháp Tiếng Việt (Hà Nội 1940 - bản tiếng Pháp). Ông đã biện luận như sau: “Đọc lại cuốn sách cũ về Ngữ Pháp Tiếng Việt của ba ông Trần, Bùi, Phạm, và so sánh với những bài viết sau ba ông hơn nửa thế kỷ, chúng tôi không khỏi nảy sinh ra những ý nghĩ không vui: những tưởng chứng minh được rằng ngôn ngữ học của ta, không nhiều thì ít, cũng tiến bước theo cái đà chung của thế giới - bằng cách khắc phục những định kiến do địa vị độc tôn của ngữ hệ Ấn Âu gây nên – thì hóa ra lại thấy những bước lùi không đáng có.” (sách đã dẫn, trang 146)
Giáo sư lại đả kích tác giả Lê Văn Lý (đã theo phái Miêu tả của Mỹ trong thập niên 30) đã đưa ra luận cứ sai lầm làm rất nhiều tác giả về ngữ pháp tiếng Việt đã bắt chước để đưa ra “những kết luận cực kỳ phi lý” (sách đã dẫn, trang 18). “Vì phương pháp miêu tả của Mỹ của những năm 30 vốn nhằm làm sao cho người nghiên cứu không cần hiểu người bản ngữ nói gì, diễn đạt ý nghĩa gì cũng cứ viết sách ngữ pháp được.” (sách đã dẫn, trang 18) Cuối cùng Giáo sư nói rằng: “Kết quả là sách ngữ pháp tiếng Việt hoàn toàn thoát ly tiếng Việt, và nếu bỏ các thí dụ bằng tiếng Việt đi thì ta sẽ có một chân dung tiêu biểu của một thứ ngôn ngữ Ấn-Âu điển hình, trừ một số đặc trưng hình thái học (như “chia động từ,” “biến cách” v.v. mà không phải ngôn ngữ Ấn-Âu nào cũng còn giữ).” (sách đã dẫn trang 18 & 19)
Giáo sư đã lý giải rằng trường học và những soạn giả Việt đã triệt để áp dụng ngữ pháp của tiếng Pháp vào tiếng Việt vì họ tưởng ngữ pháp của quốc gia nào cũng giống nhau vì cùng chung một thứ mẫu tự ABC. “Di hại của cái chủ trương ngu dân ấy cho đến ngày nay vẫn còn rõ mồn một. Sở dĩ việc dạy ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường của ta hoàn toàn thất bại là vì nội dung được đem ra dạy chính là ngữ pháp tiếng Pháp, được miêu tả theo một lối cổ lỗ, chứ không phải ngữ pháp tiếng Việt, tuy dùng toàn thí dụ tiếng Việt.” (sách đã dẫn, trang 16)
1.4. Tiếng Việt không có ngữ pháp
Giáo sư CXH quả quyết rằng tiếng Việt không hề có một ngữ pháp mà chỉ là một thứ ngữ pháp lai căng do một số soạn giả người Việt cố tình bóp méo ngôn ngữ Việt để theo đúng mô hình của ngữ pháp tiếng Pháp. Giáo sư lại cho rằng “do một sự tình cờ” mà tiếng Việt có những kiểu câu giống với kiểu câu mẫu của tiếng Pháp (của nhà trường Pháp trước Thế chiến), nghĩa là một câu luôn luôn gồm có: chủ ngữ, động từ, tân ngữ… mà tôi xin tạm dịch là subject (chủ từ), verb (động từ), túc từ (complement, object). Giáo sư cho rằng những cấu trúc của câu loại trên chỉ chiếm khoảng 20% trong số kiểu câu tiếng Việt. Ông nói rằng những câu giống câu “Em đi học” chỉ là tình cờ mà ngữ pháp tiếng Việt giống với ngữ pháp tiếng Pháp; trái lại, những câu gọi là “câu què, câu cụt” (tức là thiếu chủ từ, chủ ngữ, tân ngữ, túc từ…) chiếm tới 70% trong văn tiếng Việt, nhất là trong những lời nói đời thường hay trong văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, sử thi…) và văn chương bác học (thí dụ Truyện Kiều. “… thì lẽ ra họ phải kiến nghị gạt ra khỏi sách giáo khoa các tác phẩm của Nguyễn Du, Tú Xương hay Xuân Diệu, Nguyễn Khải, các câu tục ngữ, ca dao, các tác phẩm văn học dân gian khác, vì trong tất cả các tác phẩm này số câu què và câu cụt chiếm đến 70%.” (sách đã dẫn, trang 17)
Giáo sư hoàn toàn tin tưởng rằng trong văn chương dân gian (ca dao, tục ngữ…) và ngay cả Truyện Kiều cũng không có bất cứ cái gì mà ngữ pháp tiếng Pháp đã đề ra, nghĩa là toàn “câu cụt” và “câu què.” Chúng ta hãy thử đọc qua mấy dòng sau: “Tiếng Việt không có chủ ngữ ngữ pháp như trong tiếng Âu châu, thì cách đây 60 năm nhà thơ Đoàn Phú Tứ đã thấy rõ trong bài Đi tìm chủ từ trong Truyện Kiều, và năm 1965 một nhà ngữ học Mỹ là L.C.Thompson (cuốn A Vietnamese Grammar, nhà xuất bản Seattle & London, University of Washington Press, năm 1965) cũng đã khẳng định như vậy.” (sách đã dẫn, trang 28)
Giáo sư cũng hết lời ca tụng giáo sư Nguyễn Tài Cẩn bằng những lời sau đây: “Cách đây bốn mươi năm đã có một bậc đàn anh của ngành Việt ngữ học, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, đem từ Liên Xô về một báu vật vô giá: lý thuyết âm tiết-hình vị (slogomorphema) của một trong những nền ngôn ngữ học ưu tú nhất của nhân loại, lý thuyết duy nhất có thể giải đáp được những vấn đề mà một ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt (và nhiều ngôn ngữ phương Đông khác) đặt ra cho ngôn ngữ hiện đại, và từ đó vạch ra một con đường đúng đắn để khắc phục chủ nghĩa ‘dĩ Âu vi trung.’ Nhưng tiếc thay, hồi ấy không mấy ai hiểu ông. Ngược lại, người ta cố ý nhìn sang hướng khác, cố sao viết cho khác ông, để tỏ ra mình không đi theo ông, không phải là môn đệ của ông – nghĩa là thua kém ông.” (sách đã dẫn, trang 21)
1.5. Ngữ pháp tiếng Việt lai căng
Cấu trúc SVO (chủ từ + động từ + túc từ hay bổ túc từ) được Giáo sư CXH gọi là “chỉ nhờ một sự trùng hợp tình cờ mà tiếng Việt có những kiểu câu có thể phân tích theo ngữ pháp tiếng Pháp (của nhà trường Pháp trước đại chiến - Chủ ngữ, Động từ, Tân ngữ, v.v).” (sách đã dẫn trang 16)
Giáo sư đã bài bác chữ Chủ tự, Chủ từ, Chủ ngữ (subject) sau khi đã trích dẫn lời nói của N.Chomsky (trong cuốn Aspects of the Theory of Syntax, nhà xuất bản Cambridge, Mass: MIT Press, 1965): “Chủ ngữ trong câu là một danh từ vô nghĩa, vì chủ ngữ là một từ chỉ quan hệ.” (sách đã dẫn, trang 152)
Tóm lại, theo ý kiến của Giáo sư thì tất cả những sách dạy ngữ pháp tiếng Việt từ trước tới nay đều giảng dạy những kiểu câu hoàn toàn giống với câu của ngữ pháp tiếng Pháp, tức là có đủ ba thành phần của câu: chủ từ/chủ ngữ, động từ và túc từ/bổ túc từ.
1.6. Luận cứ của Tác giả
Theo Giáo sư CXH, bất kỳ câu nào, muốn đúng ngữ pháp của Việt ngữ truyền thống thì luôn phải có đề và thuyết. Giáo sư đã chê lối dạy tiếng Việt hiện nay trên toàn quốc vì tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn âm tiết mà lại bị gò bó để trở thành ngôn ngữ đa âm tiết như tiếng Pháp, Anh.
Sau đây là luận cứ của Tác giả: “… Cộng thêm vào đó là cái lối dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ đa âm tiết hễ từ tiếng Pháp (hay tiếng Nga) có mấy từ tố thì từ tiếng Việt cũng có bấy nhiêu tiếng (âm tiết). Người ta quên mất rằng đơn vị cơ bản của tiếng Việt là tiếng, chứ không phải là từ. Chẳng qua người ta lẫn lộn từ với ngữ định danh tức một cụm gồm nhiều từ dùng để gọi tên một sự vật. Xe là một từ, đạp là một từ: điều này ai cũng thừa nhận. Nhưng xe đạp, lạ thay, lại cũng là một từ (1+1=1). Để biện hộ cho phép tính cộng lạ đời này, người ta dám nói rằng hai chữ xe đạp không phải là chữ xe và chữ đạp trong đạp xe, mà chỉ tình cờ đồng âm với nhau thôi, và xe đạp tuyệt nhiên không phải là một thứ xe.” (sách đã dẫn, trang 35)
Rồi với luận cứ “kỳ cục” trên, Giáo sư đã vội kết tội tất cả những soạn giả sách ngữ pháp tiếng Việt là đã quá vọng ngoại có thể làm mất linh hồn tiếng Việt! Giáo sư đã viết như sau: “Một dân tộc đã đánh mất cái linh hồn nằm sâu trong tiếng mẹ đẻ của nó liệu còn có thể giữ được cái bản sắc độc đáo trong nền văn hóa dân tộc được không, và từ đó, còn có thể đóng góp được gì vào bức tranh muôn màu của văn hóa nhân loại?” (sách đã dẫn, trang 36)
1.7. Đề & Thuyết là khung ngữ pháp tiếng Việt
Cuối cùng, Giáo sư CXH gần như đã đoan quyết rằng tiếng Việt vốn không có ngữ pháp nếu chúng ta hiểu theo ngữ nghĩa của chữ “Grammaire, syntaxe” (văn phạm, cú pháp); nghĩa là tiếng Việt vốn có rất nhiều những loại “câu cụt, câu què.” Do đó, Giáo sư đã đề ra một cách để lý giải vì sao tiếng Việt không có ngữ pháp mà đa số mọi người vẫn nói và viết đúng ngữ pháp tiếng Việt “dân gian” (hay văn phong phi ngữ pháp), đó là “đề và thuyết.” Ông nói rằng: “Cả loài người chỉ có một cách tư duy, cho nên trong thứ tiếng nào của nhân loại thì câu cũng phải có đề và có thuyết: dù nói gì cũng phải cho biết mình nói về đối tượng nào, về đề tài gì, và kế theo là đưa ra một nhận định về cái đối tượng ấy, trong phạm vi cái đề tài ấy” (sách đã dẫn, trang 30 & 31). Giáo sư tin tưởng rằng chỉ có ý niệm về “đề” và “thuyết” mới có thể giúp mọi người Việt chúng ta viết được câu đúng ngữ pháp!
2. Ý kiến phản bác
Phải chăng vì quá căm thù văn hóa Thực dân nên Giáo sư CXH mới thấy dấu ấn của kẻ thù truyền kiếp đã in sâu đậm trong văn pháp/ngữ pháp của Việt ngữ? Giáo sư đã kết tội Thực dân Pháp vì chúng đã dạy cho người Việt một thứ ngữ pháp cổ lỗ của thời đại trước Thế chiến thứ 1, tức là những tri thức có từ thế kỷ 19 (sách đã dẫn, trang 16). Ông đã lớn tiếng thóa mạ song lại không chịu suy ngẫm kỹ vì chính văn hào Victor Hugo (1802-1885), Gustave Flaubert (1821-1880) và nhiều văn sĩ Pháp khác cũng đã để lại cho hậu thế biết bao kiệt tác văn chương mà những nhà văn trên cũng đã phải ứng dụng ngữ pháp về thời đó (tức là ngữ pháp mà sau này Thực dân Pháp đã dạy cho người Việt Nam trong thời gian đô hộ nước ta). Giáo sư căm thù Thực dân đến nỗi kết tội luôn cả những người đã từng học hỏi văn hóa Pháp, đó là ba ông Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm. Tôi chỉ xin nói qua về ông PDK, vốn được coi là “ông Thạc sĩ về Grammaire” đã viết một số sách bằng Pháp ngữ đề cập tới văn hóa Việt Nam làm giới trí thức Pháp thời bấy giờ phải thán phục. Bản thân tôi cũng chỉ mới đọc có mỗi cuốn Les Légendes des Terres Sereines, song tôi rất khâm phục vì với một người Việt mà viết được văn Pháp rất chuẩn mực đến nỗi người Pháp chính gốc cũng khó làm được.
Giáo sư đã đoan quyết rằng văn pháp/ngữ pháp của Việt ngữ chỉ là sự sao chép của văn pháp/ngữ pháp của Thực dân Pháp. Quả thực Giáo sư đã “vì tức giận mà mất khôn” vì Việt Nam xưa kia cũng đã từng bị Tàu đô hộ gần ngàn năm nhưng tổ tiên chúng ta đâu có nói và viết Hán ngữ như người Tàu hiện nay? Sau này, nước ta bị Thực dân Pháp đô hộ gần trăm năm, nhưng nào ta có bị đồng hóa. Vậy không thể nói rằng vì Thực dân Pháp dạy ta ngữ pháp của chúng mà đoan quyết rằng ngữ pháp của ta đã sao chép của Thực dân Pháp.
Có lẽ Tác giả CXH đã căn cứ vào thi ca và ca dao để chứng minh rằng Việt ngữ vốn không có văn pháp vì văn pháp mà mọi người đương dùng chỉ là một thứ văn pháp lai căng mất gốc do một số học giả “bồi bút” đã cố mô phỏng văn pháp của tiếng Pháp rồi nhào nặn thành thứ ngữ pháp của tiếng Việt hiện nay! Quan điểm này quả thật quá ấu trĩ vì ai cũng biết rằng thơ phú có quy luật sáng tác rất khắt khe (giới hạn từ trong mỗi câu, luật bằng trắc, âm điệu, vần điệu…) nên người sáng tác gần như quên luôn cả quy tắc văn phạm. Thơ phú của người Việt, của người Tàu và cũng như của bất kỳ quốc gia nào cũng thường rất phóng túng vượt ra ngoài quy luật ngữ pháp. Người Anh Mỹ gọi bằng thuật ngữ “poetic licence” (phóng túng trong thi ca). Từ điển điện tử Longman Dictionary of Contemporary English giải thích bằng mấy chữ sau đây được trích lược từ trang 38361: “The freedom that poets and other artists have to change facts, ignore grammar rules etc, because what they are making is poetry or art.” Tôi xin tạm lược dịch như sau: “Đó là sự phóng túng mà thi sĩ hay nghệ sĩ phải thay đổi thực tế, phải phớt lờ quy luật ngữ pháp… bởi vì họ đang làm thơ hay nghệ phẩm của mình.” Đồng thời Từ điển điện tử Oxford Advanced Learner’s Dictionary, ấn bản thứ 7 trong trang 54987 cũng giải thích thuật ngữ “poetic licence/license” như sau: “The freedom to change facts, the normal rules of language, etc. in a special piece of writing or speech in order to achieve a particular effect.” Tôi xin tạm dịch thoát ý như sau: “Đó là sự tự do thay đổi thực tế/sự kiện, quy luật thông thường về ngôn ngữ, v.v. trong một bài viết hay diễn từ đặc biệt để có thể đạt được một hiệu ứng đặc sắc.”
Tôi lại nghĩ một cách khác. Có thể trong thiên nhiên có một nguyên lý/định đề/quy luật nào đó mà nhiều quốc gia trên thế giới - từ thuở hồng hoang cho tới hiện tại – đã thể hiện theo cùng một chủ đề; thí dụ người Tây phương xưa kia tin có đấng tối cao (Thiên chúa, Thượng đế) và người Đông phương cũng tin có một ông Trời. Khoa tướng số tử vi Đông phương (Hoa và Việt) đã chia năm thành 12 con giáp (tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất và hợi) để tiện lập bảng tử vi và bói toán. Trong khi đó thì khoa tử vi Tây phương cũng chia năm thành 12 con giáp để ứng với thời gian của từng tháng: Capricorn (từ ngày 23 tháng Mười Hai tới ngày 20 tháng Giêng: tuổi Nam Dương), Aquarius (từ ngày 21 tháng Giêng tới ngày 19 tháng Hai: tuổi Bảo Bình), Pisces (từ ngày 20 tháng Hai tới ngày 20 tháng Ba: tuổi Song Ngư), Aries (từ ngày 21 tháng Ba tới ngày 20 tháng Tư: tuổi Dương Cưu), Taurus (từ ngày 21 tháng Tư tới ngày 21 tháng Năm: tuổi Kim Ngưu), Gemini (từ ngày 22 tháng Năm tới ngày 21 tháng Sáu: tuổi Song Nam), Cancer (từ ngày 22 tháng Sáu tới ngày 23 tháng Bảy: tuổi Bắc Giải), Leo (từ ngày 24 tháng Bảy tới ngày 23 tháng Tám: tuổi Hải Sư), Virgo (từ ngày 24 tháng Tám tới ngày 23 tháng Chín: tuổi Xử Nữ), Libra (từ ngày 24 tháng Chín tới ngày 23 tháng Mười: tuổi Thiên Xứng), Scorpio (từ ngày 24 tháng Mười tới ngày 22 tháng Mười Một: tuổi Hổ Cáp), Sagittarius (từ ngày 23 tháng Mười Một tới ngày 22 tháng Mười Hai: tuổi Nhân Mã). Từ đó, tôi suy ra rằng tất cả những sự kiện tương đồng (hoặc hơi giống nhau) mà cùng xuất hiện trong nhiều quốc gia thì đều không phải là quốc gia này “ăn cắp” của quốc gia khác.
Tôi nghĩ đây chỉ là sự tình cờ mà hai quốc gia có ngữ pháp giống nhau, song có điều hiển nhiên là tổ tiên của chúng ta đã không có những học giả về ngữ pháp để ghi chép lại tất cả những mẫu câu thông dụng trong đời thường, để có thể phân loại thành những tự loại. Do vậy, đã không hình thành được khoa văn pháp.
Theo tôi nghĩ, tiếng Việt đã luôn có một cái gì đó bàng bạc và tiềm ẩn để định chuẩn cho sự đúng và chính xác của câu văn và lời nói. Đó chính là ngữ pháp hay văn phạm mà xưa kia chúng ta đã học. Không thể nào không có cái quy luật để giúp chúng ta viết đúng một câu văn. Điều này hàm ý rằng xưa kia đã ẩn tàng một loại ngữ pháp, song mọi người không để ý đến và nhất là tổ tiên của chúng ta lại không có học giả về văn pháp. Trong khi đó thì Tây phương lại có những loại học giả này đã phân tích những câu thành những tự loại để rồi hình thành khoa văn pháp như hiện nay. Hồi nhỏ, tôi cũng đã học chương trình Pháp (tiểu học), nhưng khi lên trung học tôi phải theo chương trình Việt (vì hoàn cảnh gia đình), song vẫn luôn học thêm chương trình Pháp để thi luôn bằng Tú Tài Việt và Pháp; do vậy, tôi được học cả hai loại ngữ pháp. Tuy nhiên, ngữ pháp của hai ngôn ngữ này cũng hơi giống nhau. Do vậy, tôi thấy quan điểm của Giáo sư CXH nói trên rất vô lý. Ngữ pháp là một môn học dạy chúng ta cách viết câu đúng ngữ pháp, do vậy, bất kỳ một ngôn ngữ đơn âm tiết (như Việt, Hán ngữ…) và đa âm tiết (như Pháp, Anh…) cũng không tác động đến cấu trúc ngữ pháp.
2.1. Tiếng và từ
Vì sao Giáo sư CXH lại cho “đơn vị cơ bản của tiếng Việt là tiếng chứ không phải là từ” (sách đã dẫn, trang 35)? Theo ý tôi, chữ “từ” đúng hơn vì khi được viết ra trên giấy thì đó phải là “từ”, còn khi phát âm thì là “tiếng.” Từ (chữ) “xe” là một danh từ đơn, “đạp” cũng là một danh từ (hay động từ) đơn; nhưng khi hai từ đơn được ghép lại với nhau sẽ trở thành danh từ kép (compound noun), do vậy, công năng trong ngữ pháp vẫn chỉ coi là một từ (để làm chủ từ/chủ ngữ hay túc từ gì đó…). Hán ngữ cũng có cách kết hợp (động từ với danh từ), thí dụ: động từ “độc” (đọc sách báo) ghép với danh từ “giả” (người) thành “độc giả” (người đọc sách báo, bạn đọc), tương tự với những danh từ kép sau đây: thính giả, khán giả, thực giả. Hán ngữ cũng có cách ghép 2 danh từ với nhau để thành danh từ kép, thí dụ: “văn” (văn chương) ghép với danh tự “sĩ” (học trò, người) để thành chữ “văn sĩ” để chỉ người viết văn, nhà văn; tương từ với những danh từ kép sau: họa sĩ, nhạc sĩ, nha sĩ, bác sĩ… Từ điển Mac Millan (trang 283) đã định nghĩa chữ “compound” như sau: “A combination of two or more words that is used as a single word” (nghĩa là “sự kết hợp của 2 hay nhiều từ và được dùng như 1 từ đơn). Ngữ pháp Anh ngữ hiện đại công nhận có 3 loại kết hợp là: noun compounds (như bus stop), adjective compounds (như self-centered) và verb compounds (như wind surf). Xưa kia, thầy giáo bậc tiểu học cũng dạy tôi những điều tương tự: nếu tách 1 từ ra khỏi danh tự kép thì danh từ đó không còn nghĩa gì nữa; vậy, một danh từ kép chỉ có nghĩa khi có đủ mấy từ đó, thí dụ: xe đạp, xe gắn máy, xe xích lô, máy bay, sông ngòi…
2.2. Tìm hiểu đề & thuyết
Để hiểu rõ ngữ nghĩa của “đề” và “thuyết,” chúng ta hãy cùng nhau nhận diện hai chữ Hán này. Chữ “đề” (phiên âm Pin Yin là “tí” và âm Hán Việt là “đề”) được Từ Điển Trung Việt của Nhà Xuất bản KHXH Hà Nội (1993) giải thích là “đề mục, viết vào;” còn chữ “thuyết” (phiên âm Pin Yin là “shuō” và âm Hán Việt là “thuyết”) cũng được Từ điển trên giải thích là “nói, giải thích, luận thuyết, ý chỉ.” Tóm lại, “đề” và “thuyết” không hề mang tính quy luật hay luật lệ (để viết đúng câu văn) và không bao hàm ý nghĩa chức năng (function) mà thực sự chỉ là “đề tài, đề mục, ý chỉ…” Do vậy, “đề và thuyết” không phải là những mẹo của ngữ pháp vì “đề và thuyết” chỉ là nội dung của một câu (đơn, kép, phức). Dù ở bất kỳ quốc gia nào và ở bất cứ nền văn minh nào từ xưa tới nay, mỗi khi ai đó nói ra bất cứ câu nói, lời nói nào… thì luôn luôn trong câu đó cũng có một nội dung nào đó. Chúng ta không thể chỉ căn cứ vào một câu nói hay một câu tục ngữ nào (mà câu này không có một trong ba yếu tố là chủ từ, động từ và túc từ; tức là câu què, câu cụt) để đoan quyết rằng câu đó phải rập khuôn theo khung “đề và thuyết!” Để viết đúng câu văn, ta phải tuân thủ một số mẹo luật (tức công năng của một số thành phần của câu) tức là ngữ pháp/văn pháp.
Trái lại, chữ “ngữ pháp/văn pháp và cú pháp” mà phiên âm Pin Yin lần lượt là “yǔ fǎ,” “wén fǎ” và “jù fǎ” được người Anh Mỹ hiểu là “grammar” và “syntax.” Chữ “pháp” có nghĩa là quy luật, luật lệ; do vậy, “văn pháp/ngữ pháp” là quy luật để tạo nên câu văn và lời nói cho đúng cách, còn “cú pháp” là quy luật để đặt thành câu cú cho gẫy gọn và đúng cách.
Grammar được Từ điển Mac Millan giải thích như sau: “The set of rules that describe the structure of a language and control the way that sentences are formed” (trang 618). Tôi xin tạm dịch như sau: “Một số những quy luật mô tả một cấu trúc của một ngôn ngữ và khống chế cách thức thành lập những câu.” Vậy “grammar” tức là văn pháp, ngữ pháp hay văn phạm. Riêng chữ “văn phạm” hình như do người Việt chúng ta gọi vì chính trong 4 từ điển sau đây cũng không có chữ này: The English Chinese Dictionary (unabridged) của nhà xuất bản Thượng Hải Dịch Văn, International English-Chinese Dictionary của Trương Phương Kiệt (nhà xuất bản Hoa Văn Đồ Thư), Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh (do nhà Trường Thi xuất bản năm 1952 tại Saigon) và Từ Điển Trung Việt của nhà xuất bản KHXH Hà Nội (năm 1993). Cả 4 từ điển trên chỉ có chữ “văn pháp, ngữ pháp” có ngữ nghĩa tương đương với tiếng Anh là “grammar.”
Syntax cũng được Từ điển Mac Millan giải thích như sau: “The rules about how words are arranged and connected to make phrases and sentences.” (trang 1457) Tôi xin tạm dịch như sau: “Những quy luật ấn định cách xếp đặt và liên kết những nhóm từ và câu lại với nhau.” Vậy “syntax” tức là cú pháp.
Từ hai định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra một nhận xét như sau: bất kỳ một câu nói đúng cách nào cũng phải được rập theo khuôn mẫu đã có sẵn, tức là phải theo đúng mẹo luật của văn pháp, còn “đề” và “thuyết” chỉ là nội dung của câu nói. Văn pháp được coi như kết cấu/cấu trúc của câu văn, còn “đề & thuyết” là nội dung của câu đó.
2.3. Cần phải có ngữ pháp
Bất kỳ một cộng đồng dân cư trong một khu vực nào đó trong khi giao tiếp với đồng loại vẫn phải dùng một ngôn ngữ nào đó trong một thời gian rất dài. Dần dần hình thành một số câu nói được mọi người hay dùng vì do thói quen rồi trở thành mẫu mực cho mọi người. Văn pháp không phải là thứ gì đã có sẵn trước khi loài người sinh ra hay từ trên trời rớt xuống ngay khi con người xuất hiện trên mặt đất. Văn pháp này được hình thành từ những công lao gian khổ của một số học giả đã thu lượm những lời nói xem chừng đúng để rồi từ đó, những học giả này làm thống kê, phân tích, phân loại … và cuối cùng tìm ra được những định luật về văn phạm và sáng tạo thành khoa học về văn pháp và cú pháp.
Sự kiện này cũng y hệt như lý thuyết kinh lạc trong khoa Châm cứu khi xưa: do tình cờ một số người xưa thấy một số huyệt vị trên cơ thể có công năng làm giảm đau nhức và có thể chữa khỏi một số bệnh tật. Dần dần, do kinh nghiệm truyền lại, cổ nhân đã vẽ lại được hệ thống 14 kinh mạch trên cơ thể con người (gồm 3 kinh Âm ở tay, 3 kinh Âm ở chân, 3 kinh Dương ở tay, 3 kinh Dương ở chân, cùng 2 mạch Nhâm và Đốc).
Sự kiện này cũng giống với trường hợp phát hiện ra âm lịch khi xưa. Cách đây hơn 5.000 năm về trước vua Hoàng Đế bên Tàu đã sai hai ông Hy & Hòa lên vùng cực bắc bên Tàu để ngắm trăng sao trong gần 10 năm trời. Sau đó hai Ông này, được xưng tụng là Ông tổ về lịch, đã hiểu được sự vận hành của mặt trời, mặt trăng cùng những vì tinh tú và đưa đến việc phát hiện được 1 năm có 365 ngày hoặc 12 tháng.
Nhưng văn pháp (ngữ pháp, văn phạm…) có sau ngôn ngữ loài người, ngoài ra, văn pháp thay đổi tùy thời gian và không gian; nghĩa là được cập nhật với sự sinh hoạt văn hóa của con người. Do vậy, nếu chúng ta muốn nói và viết một câu đúng cách thì chúng ta phải học văn pháp. Sự kiện này càng có ý nghĩa với người ngoại quốc khi muốn học một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ của mình: chỉ trong một thời gian ngắn có thể viết giống như người bản xứ, còn nếu không, thì họ phải đích thân lê gót tới nước đó và ăn ở với dân bản xứ ít ra trong 5 năm mới có thể viết và nói được như dân bản địa. Vậy văn phạm giúp chúng ta đốt ngắn giai đoạn học tập để có thể viết được câu văn đúng ngữ pháp.
Do vậy, tôi nghĩ rằng bất kể ngôn ngữ là đa âm hay đơn âm, bất kể ngôn ngữ là biểu âm hay biểu ý… thì văn phạm cũng đều na ná như nhau, đồng thời, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có những đặc thù riêng, do vậy, văn pháp gia thường xếp chúng vào một “ngoại lệ.”
Những em bé vài ba tuổi khi mới bập bẹ nói hoặc những người ngoại quốc khi mới học một ngôn ngữ thứ hai thường chỉ phát âm những từ rời rạc (chưa chắp thành câu) tức là động từ, danh từ hay tính từ. Thí dụ họ nói: “đau, đói, ăn, mèo…” Khi vừa mới nghe xong, ta chỉ đoán đại khái là người đó nói tới “đau, đói, ăn, mèo…” song không rõ là người đó nói về bản thân họ hay nói về ai đó vì đó chỉ là những từ rời rạc. Nếu những từ rời rạc đó được chắp ghép lại thành câu cú thì người nghe mới hiểu rõ thêm. Chẳng hạn người đó nói: “Tôi đói, tôi đau, nó ăn, con mèo to…” Do đó, chúng ta mới hiểu rõ nội dung của bất kỳ câu nào khi được diễn tả theo một trật tự hay cấu trúc đã có sẵn.
2.4. Ý niệm siêu hình trong văn pháp
Ý niệm siêu hình bàng bạc trong mọi sinh hoạt tinh thần của nhân loại, song ý niệm ban đầu này lại đầy màu sắc duy tâm. Xưa kia con người tin rằng Thượng đế đã sinh ra muôn loài muôn vật, do vậy, họ đã sáng tạo ra Thượng đế theo như suy nghĩ của chính họ vì thời đó triết thuyết Duy Tâm đã thống trị mọi tư tưởng và hành vi của con người.
Chúng ta có thể thấy ý niệm này rất rõ trong âm nhạc cổ điển Tây phương. Khoa hòa âm (harmony) và sáng tác (composition) đã thể hiện một chủ đề chính: bất kỳ âm thể trường/trưởng (major) hay thứ/đoản (minor) đều là những hợp âm (từ Do tới Si) mà những hợp âm này (trường hay đoản) đều phải có 3 nốt nhạc chính. Nốt nhạc chính là nốt nhạc thứ 1 được gọi là âm chủ, nốt thứ nhì (đứng vị trí thứ 3) là trung âm và nốt thứ ba (đứng vị trí thứ 5) là át âm. Thí dụ hợp âm Do trưởng phải có âm chủ là nốt Do và 2 âm phụ là nốt Mi và Sol và hợp âm La thứ cũng phải có nốt La và 2 âm phụ là Do và Mi. Do vậy, khi bắt đầu một bản nhạc, thí dụ bản nhạc thuộc hợp âm Do trưởng thì 1 trong 3 âm Do Mi Sol phải luôn hiện diện trong 1 hay 2 trường canh (measure) đầu của bản nhạc, sau đó, dòng nhạc được chuyển sang những hợp âm liên hệ với hợp âm chủ Do trưởng, thí dụ như Sol trưởng, Re trưởng, hoặc Sol 7, rồi có thể chuyển sang La thứ, rồi lại về Do trưởng… Nhưng khi kết thúc bài nhạc thì phải kết thúc bằng 1 trong 3 nốt của hợp âm chủ Do trưởng (tức Do, Mi hay Sol). Tương tự cũng như với bản nhạc thuộc âm thể La thứ… Dù là ca khúc ngắn (từ 16 tới 64 trường canh) cho tới một bản đại hòa tấu (symphony) thì vẫn luôn luôn hiện diện một hợp âm chủ (ở đầu và ở cuối bản nhạc). Còn trong sáng tác thì vẫn luôn có một đoạn nhạc mở đầu (thí dụ gọi là A) và vài ba đoạn nhạc khác (thí dụ là B, C…) và đoạn A cứ được lặp lại xen kẽ trong bản nhạc, nghĩa là A, tới B, quay lại A, tới C… rồi khi kết thúc bản nhạc lại là A. Điều này chính là ý niệm siêu hình đã ẩn tàng trong âm nhạc cổ điển Tây phương để nói lên rằng con người sau bao năm sống tạm bợ trên cõi đời thì cuối cùng cũng trở về lòng đất.
Âm nhạc đã như thế thì văn học cũng thế thôi. Văn pháp đã ẩn tàng một ý nghĩa siêu hình vì trong sinh hoạt cộng đồng luôn luôn có sự hiện diện của chủ thể và tha nhân, sự hiện diện của chủ thể ở trong ngoại giới; do vậy, đã hình thành mối tương tác giữa chủ thể với tha nhân và ngoại giới. Mỗi câu được coi như một thế giới vi mô (microcosm) còn tập thể những câu trong một bài là một thế giới vĩ mô (macrocosm), do đó, trong một câu luôn luôn phải có chủ thể (biểu tượng của Thượng đế thu nhỏ) và tha nhân trong môi trường ngoại giới; chính vì thế mỗi câu đều có chủ từ và động từ cùng túc từ để biểu tượng cho mối tương quan khắng khít giữa những con người với nhau trong một ngoại giới vừa thân thiện và vừa xa lạ. Chủ thể và tha nhân có thể là người, thú vật, đồ vô tri vô giác, hoặc một động tác hay ý tưởng. Động tác này có thể là động tác trực tiếp hay gián tiếp mà động tác ở đây tức là động từ (để biểu thị hành động). Thí dụ: chủ thể làm một động tác hoặc trực tiếp hay gián tiếp tới tha nhân, chẳng hạn như: Anh ta đánh con chó (tương quan trực tiếp); Cô ta cho hắn chiếc kẹo (tương quan gián tiếp) và Em bé nhảy nhót vui vẻ trong vườn (chủ thể trong một môi trường nào đó); Con chó sủa điếc tai; Bầu trời trong xanh…
2.5. Mẫu câu chuẩn
Vốn không phải là văn pháp gia, và nhất là trong bài ngắn này, tôi tạm lược bỏ không nói tới những thành phần của ngữ pháp như: article (quán từ, mạo từ), adjective (tính từ, hình dung từ), adverb (trạng từ), danh từ (noun), preposition (giới từ, tiền trí từ), conjunction (liên từ, liên tiếp từ), interjection (thán từ, cảm thán từ), pronoun (đại danh từ, đại từ). Tôi chỉ đề cập tới những yếu tố chính yếu trong câu.
Tóm lại, dù bất cứ một ngôn ngữ nào (biểu ý hay biểu âm, đa âm hay đơn âm…) cũng đều có những câu nói theo một dạng nhất định nào đó. Thông thường, dạng câu có tần số nhiều nhất trong đủ mọi ngôn ngữ là dạng: Subject + Verb + Object/Complement (tôi tạm dịch là Chủ từ/Chủ ngữ + Động từ + Túc từ/Bổ túc từ). Mẫu câu chuẩn và đúng ngữ pháp phải là SVO (Subject+Verb+Object) có thể áp dụng cho nhiều ngôn ngữ vì trong đó bao hàm mối tương quan giữa chủ thể và ngoại giới. Chính mẫu câu chuẩn này đã ẩn tàng một suy tư siêu hình mang đậm tính cách triết lý nhân sinh quan.
Chủ từ (chủ ngữ) có thể là danh từ (đơn hay kép), đại từ (pronoun), động từ (nhưng với Anh ngữ có thể có danh động từ tức Gerund), một nhóm từ… Động từ có thể là động từ đơn hay kép. Túc từ có thể là danh từ (đơn hay kép), đại từ, động từ (với Anh ngữ có thể là danh động từ tức Gerund), một nhóm từ… Ngoài ra, để bổ nghĩa cho danh từ, người ta có thể dùng tính từ (adjective) đơn hay kép, hoặc một nhóm từ (chi câu); để bổ nghĩa cho động từ, người ta có thể dùng trạng từ (adverb) đơn hay kép, một nhóm từ (chi câu). Người ta cũng dùng mạo từ (article) để đặt trước danh từ… Đó là quy luật của ngữ pháp thông thường cho hầu hết ngôn ngữ trên thế giới. Ngoài ra, với động từ, người ta còn chia làm 3 loại: “tự động tự” (intransitive verb) là động tự dùng riêng một mình vì tự nó đã đủ ý nghĩa (thí dụ: She dances = Cô ta khiêu vũ); “tha động tự” (transitive verb) là động tự phải có thêm túc từ mới đủ ý nghĩa (thí dụ: I eat a cake = Tôi ăn bánh) và “trợ động tự” (auxilliary verb) thường là động từ “to have, to be.” Sau này, văn phạm Anh ngữ lại xếp động tự này có “helping verbs” hoặc “linking verbs” (là những chữ shall, will, can, could, would…). Nói chung, động từ “to have” thường đòi hỏi túc từ là tiếng danh từ, còn động từ “to be” và một số động từ thuộc nhóm này thường đòi hỏi tính từ hay danh từ ở ngay sau...
Văn pháp của Việt ngữ và Hán ngữ cũng na ná như thế, nhưng không có số nhiều cho danh từ, không có sự tương thích giữa động từ và chủ từ, không có sự biến đổi danh từ giống đực và cái, không có sự chia động từ (conjugate) như Anh ngữ và Pháp ngữ. Sau đây, tôi xin trích dẫn một số câu chữ Hán tiêu biểu, song chỉ là những câu loại đơn giản có dạng cấu trúc SVO.
2.5.1. Đại Học
“Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.” Tôi xin tạm dịch như sau: Đường lối của sách Đại Học là phải làm rạng sáng (cải thiện) đức tính tốt của mình, phải giáo huấn mọi người và phải kết thúc ở chỗ toàn thiện. Trong câu nguyên tác, chủ từ/chủ ngữ/chủ thể là “đại học chi đạo,” động từ là 3 chữ “tại minh, tại tân, tại chỉ” (động từ kép) và túc từ là chữ “đức, dân, thiện.”
2.5.2. Trung Dung
Trình Tử viết: “Bất thiên chi vị trung, bất dịch chi vị dung; trung giả, thiên hạ chi chính đạo; dung giả, thiên hạ chi định lý.” Tôi xin tạm dịch như sau: Trình Tử nói rằng: Không lệch thì gọi là trung, không thay đổi thì gọi là dung; trung (ở giữa) là chính đạo của mọi người; dung (bình thường) là định lý của mọi người. Trong câu nguyên tác, chủ ngữ lần lượt là “Trình Tử, bất thiên, bất dịch, trung giả, dung giả;” động từ lần lượt là “viết”, “vị”(2 chữ) cùng 2 động từ lẩn (ở ngay sau 2 dấu phẩy) có thể là chữ “vi, nãi, thị = là, thì; túc từ lần lượt là “trung, dung, chính đạo, định lý” (nghĩa là 2 câu này phải viết như sau: “trung giả, vi/nãi/thị thiên hạ chi chính đạo; dung giả, vi/nãi/thị thiên hạ chi định lý”).
2.5.3. Luận Ngữ
“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ!” Tôi xin tạm dịch như sau: Học hành (để tăng tiến kiến thức và nhân phẩm) và chăm chỉ thực dụng những điều trên thì chẳng vui biết bao ư? Trong câu nguyên tác, chủ từ lẩn là chữ “nhĩ, quân” (mày, bạn); động từ là chữ “học, tập, bất duyệt;” còn túc từ là chữ “chi” (cái điều đó, tức là kiến thức và nhân phẩm).
2.5.4. Mạnh Tử
“Quân tử chi đức, phong dã; tiểu nhân chi đức, thảo dã.” Tôi xin tạm dịch như sau: Đức của người quân tử như gió, đức của tiểu nhân giống như bụi cỏ. Ý nói là đức của người trên có thể cảm hóa được người ta giống như làn gió thổi mạnh làm cây cỏ nghiêng ngả theo chiều gió. Chủ từ là “quân tử chi đức, tiểu nhân chi đức;” động từ lẩn là “nãi, tức, vi…” (là, thì…); bổ túc từ là “phong, thảo.”
2.5.5. Đạo Đức Kinh
“Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh.” Tôi xin tạm dịch như sau: Đạo mà chúng ta có thể giảng giải rõ ràng thì không còn là đạo nữa; danh mà chúng ta có thể giải thích cặn kẽ thì không còn là danh nữa. Trong câu nguyên tác, chủ từ lần lượt là “đạo” và “danh” (chữ đầu); động từ lần lượt là “khả (2 chữ), phi thường (2 chữ);” túc từ lần lượt là “đạo (2 chữ), danh (2 chữ).”
2.5.5. Tố Nữ Kinh
Hoàng Đế vấn Tố Nữ viết: “Ngô khí suy nhược bất hòa, tâm nội bất lạc, thân thường khủng nguy; tương như chi hà?” Tôi xin tạm dịch như sau: Hoàng Đế hỏi Tố Nữ như sau: “Khí lực của trẫm suy nhược và bất hòa, lòng trẫm không vui vẻ và trẫm thường lo sợ; vì sao lại như vậy?” Trong câu nguyên tác, chủ từ lần lượt là “Hoàng Đế, ngô khí, tâm nội, thân;” động từ là “vấn viết” (song đặc thù là động từ kép này lại bị túc từ Tố Nữ nằm xen kẽ), động từ lẩn là “thi, nãi, vi…” (là, thì…); bổ túc từ là “suy nhược, bất hòa, bất lạc, khủng nguy;” túc từ là “Tố Nữ.” Còn câu “tương như chi hà” là một lối đặc ngữ ngày xưa khó có thể phân tích văn phạm được!
2.6. Câu què và câu cụt
Trong văn học dân gian thường có rất nhiều những dạng câu cụt và câu què như sau: Không được không về, Ăn cháo đá bát, Ăn cả ngã về không, Được làm vua, thua làm giặc, Trời nắng cực, phải ra ao đá bèo (câu trả lời của Trạng Quỳnh khi Bà Chúa hỏi lý do ra nghịch chơi giữa buổi trưa hè)….
Với một ngôn ngữ hay dùng những dạng câu trên thì chúng ta nên tìm hiểu vì sao lại có tình trạng này. Sau đây là một số lý do không có chủ từ/chủ ngữ.
2.6.1. Ẩn tàng một ý nghĩa siêu hình
Không phải là người xưa không biết tới ngữ pháp nhưng bởi vì lối dùng câu cụt, câu què đã ẩn tàng một quan niệm triết lý cao siêu: chủ thể không dám xuất hiện vì tự cảm thấy mình quá nhỏ nhoi trước một đối thủ quá vĩ đại, hoặc vì muốn giấu kín thân phận mình, vì sợ oai quyền nên phải nhún nhường; vả chăng người Đông phương xưa kia rất nhún nhường và khiêm tốn. Ta thường thấy họ hay dùng những quán ngữ như: tệ xá (nhà tồi tàn), ngu ý (ý kiến ngu dốt của tôi), thiển kiến (ý tưởng phiến diện), bỉ chức (chức quan hèn mọn), hạ quan (quan viên thấp kém này), tiểu nhân (kẻ nhỏ mọn này), tiện nhân (kẻ bần tiện này)… khi phải xưng hô với người xa lạ nhất là khi người này có thân phận cao sang. Lý do này giải thích vì sao cung điện của vua chúa Việt Nam ngày xưa lại thấp bé so với cung điện của vua Tàu: không phải vì người Việt ngày xưa không có tài kiến trúc (xưa kia kiến trúc sư Vũ Huy Tô đã từng đảm trách việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành thời Tần Thủy Hoàng và công trình sư Nguyễn Văn An đã tạo dựng nên Tử Cấm Thành thời Nhà Thanh) và không phải vì không có nhiều tiền bạc mà chính vì cổ nhân Việt xưa kia tự nhận mình thấp bé nhỏ mọn trước thiên nhiên hùng vĩ bao la nên không dám lấn át thiên nhiên. Tổ tiên chúng ta khi xưa thường cất những nhà cửa thấp bé (hoặc chỉ là mái nhà tranh bên cạnh sườn đồi, hay nằm dưới gốc cây cổ thụ) là muốn biểu lộ ý muốn hòa đồng với thiên nhiên.
2.6.2. Nôm na là cha mách qué
Người bình dân vốn ít học nên lời ăn tiếng nói có vẻ sẵng và sỗ sàng, do đó, câu nói không gẫy gọn và trống không. Đồng thời họ luôn cảm thấy bị áp bức và thua kém nên trong tâm khảm đã hình thành một sự chống đối ngấm ngầm; nhưng trên thực tế, vì thấp cổ bé miệng nên họ chỉ có thể tự an ủi bằng câu tục ngữ “Nhất sĩ nhì nông; hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ.” Do vậy, họ chỉ có thể chống đối bằng những câu cụt và câu què. Đồng thời giới sĩ phu vì muốn hòa đồng với nông dân nên cũng muốn bắt chước lời ăn tiếng nói như thế, do đó đã hình thành những dạng câu què và câu cụt trong những tác phẩm văn chương.
2.6.3. Vặn óc nghĩ câu ngắn
Ngoài ra, sự hình thành câu cụt và câu què cũng có thể do xưa kia tổ tiên ta chưa chế tạo được giấy nên mọi ghi chép đều khắc trên những thẻ tre, do vậy, họ phải vắt óc để tìm những câu thật ngắn gọn rồi mới khắc lên thẻ tre. Lâu dần thành quen khiến ngày hôm nay chúng ta mới thấy có nhiều câu què và câu cụt trong những áng văn chương tuyệt tác. Việt Nam và Trung Hoa ngày xưa cũng như nhau. Điển hình như bài thơ sau đây: “Cửu hạn phùng cam vũ, Tha hương ngộ cố tri, Động phòng hoa chúc dạ, Kim bảng quải danh thì.” Tôi xin tạm dịch như sau: “Hạn hán lâu ngày gặp cơn mưa to, Ở xứ lạ gặp bạn cũ, Đêm động phòng của cô dâu chú rể, Thi đỗ trạng nguyên.” Chúng ta có thể thấy những dạng câu này trong những bài thơ Đường nổi tiếng. Tôi xin tạm trích ra vài câu điển hình.
“Khứ niên, kim nhật thử môn trung” là câu thơ của Thôi Hộ (mà tôi xin tạm dịch như sau: Năm trước ngày này ở ngay tại cửa này).
“Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, Hối giao phu tế mịch phong hầu” là 2 câu thơ trong bài Khuê Oán của Vương Xương Linh (mà tôi xin tạm dịch như sau: Chợt thấy màu xanh của cây liễu ở ngoài đường, lòng hối hận vì đã để cho chồng đi chinh chiến để được phong chức công hầu).
“Xử thế nhược đại mộng; Hồ vi lao kỳ sinh?” là 2 câu thơ của Lý Bạch (mà tôi xin tạm dịch như sau: Đời như giấc mộng lớn, vì sao lại vất vả khổ sở để làm gì?)
“Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên. Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên” là 2 câu thơ trong bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế (mà tôi xin tạm dịch như sau: Trăng tà, tiếng kêu của quạ, sương đầy trời; hàng cây phong bên bờ sông, ánh đèn của thuyền đánh cá và lòng buồn vời vợi).
Thi ca của Tàu có những câu thơ trác tuyệt thuộc dạng những câu cụt và câu què thì thi ca của chúng ta cũng thế, do vậy, tôi xin được miễn trích lược.
3. Kết luận
Lý do không phải vì những dạng câu cụt và câu què có tính thẩm mỹ trong thi ca mà chính vì trong khi sáng tác những vần thơ thì tác giả bắt ý thi hứng phải gò bó vào trong âm vận và giới hạn của số từ trong một câu nên đã hình thành những câu cụt và câu què.
Tóm lại, câu cụt và câu què chỉ là một dạng câu ở trạng thái ấu trĩ về tri thức khi mà nhân loại sinh sống trong môi trường thuần phác không phức tạp đa đoan. Tới khi càng đông người và mối tương quan càng phức tạp thì suy tư cũng thay đổi nên đã hình thành những dạng câu không thể đơn thuần là dạng câu cụt và câu què nữa. Ta có thể ví như ở một đứa bé ba bốn tuổi, tất nói năng phải có những loại câu cụt và câu què; tới khi dần dần lớn khôn, đứa bé sẽ ăn nói gẫy gọn hơn. Vả lại dạng của câu mẫu SVO là một kiến trúc hoàn hảo vì rất đầy đủ ý nghĩa trong bất kỳ ngôn ngữ nào. Đó chính là lý do luôn luôn hiện hữu một khoa ngữ pháp. Mục đích của ngữ pháp là để giúp mọi người viết đúng câu văn và làm câu văn càng thêm ý nghĩa trong sáng mà không hàm hồ.
Trong những điều luật (công ước quốc tế, hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự…) cùng những bản giao kèo, khế ước về thương mại… luôn luôn có những câu thuộc dạng SVO. Không ai dám viết những điều luật có những câu cụt và câu què vì những câu này có ý nghĩa rất hàm hồ thường dễ gây hiểu lầm rất tai hại. Ngoài ra, loài người luôn luôn thích cải thiện từ vật chất tới tinh thần. Do vậy, chúng ta cần phải cải tiến tư duy. Trong khi mọi người đương tiến bước, nếu ta ngưng bước thì lập tức người ở phía sau sẽ bước lên và bỏ mặc chúng ta ở lại phía sau. Xưa kia mé thành trong của chiếc bồn tắm của vua Thang bên Tàu có khắc dòng chữ: “Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” (nghĩa là: ngày đổi mới, ngày một đổi mới và lại một ngày đổi mới) có mục đích cảnh tỉnh vua Thang phải có óc cầu tiến để cai trị dân lành được cơm no áo ấm và sống yên vui thanh bình.
Dưới đây là mấy chữ Hán (Nho) được dùng trong bài để minh chứng quan điểm của tôi mà chữ hoa là phiên âm Hán Việt còn chữ trong ngoặc đơn là phiên âm Quan thoại/Bắc Kinh.



Dòng 1: ĐỀ (tí), THUYẾT (shuo)
Dòng 2: NGỮ PHÁP (yu fa), VĂN PHÁP (wén fa), CÚ PHÁP (jù fa)

Ghi chú
1. Phủ nhận sự hiện hữu của ngữ pháp Việt ngữ
Giáo sư Cao Xuân Hạo đã viết một số sách, song chỉ có hai cuốn sách sau đây bàn luận về văn pháp/ngữ pháp:
* Tiếng Việt, Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1991.
* Tiếng Việt, Mấy Vấn đề Ngữ âm, Ngữ pháp, Ngữ nghĩa, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội 1998.
Song cả 2 cuốn trên của Giáo sư CXH đều chứng minh rằng Việt ngữ không phải là Pháp ngữ và cũng rất khác xa với Pháp ngữ về nhiều phương diện, nhất là về ngữ pháp/văn pháp; song Việt ngữ vẫn là một thứ tiếng trong sáng, chính xác, tinh tế và đẹp đẽ. Do vậy, Giáo sư khuyên chúng ta không nên “nhào nặn, cắt xén” như những sách giáo khoa về văn pháp của những Tác giả đã từng làm nô dịch cho văn hóa Pháp quốc. Tóm lại, cả hai cuốn sách trên cũng đề cập tới nội dung tương tự như cuốn Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt… mà tôi đã mổ xẻ và phê bình ở trên.
Ngoài ra, Ông CXH đã hết lời ca tụng Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, song trong bài trên tôi cũng không hề thấy được một lời xác nhận nào của Giáo sư NTC về sự tồn tại hay không của ngữ pháp tiếng Việt. Tôi thấy có vẻ như Giáo sư CXH muốn chứng tỏ là ta đây đã từng đọc rộng hiểu nhiều. Ngay cả khi Ông CXH đã dẫn chứng chỉ vỏn vẹn một câu của N. Chomsky khiến tôi cũng không biết là N. Chomsky có phủ nhận sự hiện hữu của ngữ pháp Việt ngữ hay không!
2. Văn phạm Việt ngữ
Từ thập niên 40 tới thập niên 70 đã xuất hiện nhiều sách tiếng Việt đề cập tới văn phạm Việt ngữ. Song tôi chỉ muốn nói về cuốn sách đặc sắc của Soạn giả Phạm Tất Đắc. Nếu Quý Bạn muốn hiểu rõ thêm văn pháp Việt ngữ thì có thể tìm đọc cuốn Phân Tích Tự Loại và Mệnh Đề của Giáo sư Phạm Tất Đắc, được Nhà xuất bản ABC, Hà Nội ấn hành năm 1951 và sau đó đã được Bộ Quốc Gia Giáo Dục (dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại) chọn làm sách giáo khoa để giảng dạy văn phạm Việt ngữ trong những trường học trên toàn quốc trong thập niên 50. Soạn giả Phạm Tất Đắc đã căn cứ vào văn phạm Pháp ngữ để biên soạn cuốn trên, nhưng không có nghĩa là cố tình “bóp méo, nhào nặn” (chữ của Giáo sư CXH) để sao cho văn pháp Việt ngữ hoàn toàn giống với văn pháp của Pháp ngữ. Như trên tôi đã nói, Việt ngữ cũng có văn pháp như Pháp, Anh ngữ… mà mẫu câu chuẩn là SVO thường xuất hiện trong rất nhiều ngôn ngữ đơn âm, đa âm cũng như trong văn tự biểu âm và biểu ý. Nếu Việt ngữ không có văn pháp giống như của Pháp ngữ thì những nhà soạn sách văn phạm Việt ngữ đã không thể nào “bóp méo và nhào nặn” được. Tôi muốn nói là hai thứ văn pháp đó hơi giống nhau, cũng như chiếc xe đạp và xe gắn máy cũng hơi na ná như nhau: cả hai đều có bánh xe, vỏ, ruột xe, căm xe, yên, tay lái, thắng… Song chỉ khác biệt là một đằng vận hành bằng động cơ và một đằng phải đạp bằng chân. Chính vì có sự giống nhau nên ta mới có thể mô tả và liệt kê những cơ phận của hai loại xe đó. Vì văn pháp của Việt ngữ hơi na ná với văn pháp của Pháp, Anh ngữ… nên những nhà biên soạn sách văn phạm Việt ngữ mới có thể phân loại thành nhiều từ loại khác nhau: danh từ, động từ, tính từ… Có phải vì thế mà Giáo sư CXH đã ngộ nhận chăng?
3. Văn pháp Hán ngữ
Đồng thời tôi cũng xin nói một đôi lời về văn pháp chữ Hán cổ, nếu Quý Bạn muốn đọc hiểu một số văn ngôn, văn từ… của chữ Hán cổ như trong sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử… xưa kia thì Bạn phải tìm đọc cuốn Văn Pháp Chữ Hán (cổ Hán văn) của Giáo sư Hậu Năng Phạm Tất Đắc, được nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội ấn hành năm 1996, dày 1124 trang, khổ 14.5 x 20.5cm. Giáo sư đã biên soạn vài chục đầu sách giáo khoa Pháp ngữ, song về cuối đời lại nghiên cứu văn phạm chữ Hán cổ (không phải văn Bạch thoại) để sau đó biên soạn được tác phẩm trên. Trong bài này, tôi nêu tên sách này chỉ để chứng minh quan điểm của tôi rằng văn phạm/văn pháp/pháp ngữ của bất kỳ một ngôn ngữ nào (dù là đa âm hay đơn âm, dù là biểu âm hay biểu ý) thì cũng có một số nét tương đồng với nhau, nghĩa là tần số SVO được lặp lại rất nhiều lần.
4. Đôi điều về Ngữ học gia Noam Chomsky
Tôi vốn không thích môn Ngôn ngữ học (Linguistics), do vậy, tôi chỉ đọc phớt qua cuốn Cours de l’Inguistique Générale của ngôn ngữ gia Ferdinand de Saussure (1857-1913) vốn được coi là người đã khai sáng ra khoa ngôn ngữ học. Hiện nay, nổi bật nhất là Giáo sư Avram Noam Chomsky (sinh năm 1928) đã viết rất nhiều sách về ngôn ngữ học, trong đó có cuốn Generative Grammar (Ngữ pháp sinh động/tạo sinh) và cuốn Syntactic Structures (Những cấu trúc cú pháp). Ngoài ra, Ông còn viết nhiều đề tài khác nhau, song đáng chú ý nhất là quan niệm chính trị khuynh tả: chống chiến tranh Việt Nam, phản đối Mỹ gây chiến với Irak và bênh vực Tổng thống Sadam Hussein và Bin Laden, phản đối chính sách toàn cầu của Mỹ… Do đó, Ông không được lòng dân chúng Mỹ và nhiều lần bị đe dọa sát hại khiến FBI phải thường xuyên bảo vệ an ninh. Cuối cùng Ông sang Canada sinh sống.
Chính vì tôi không thích môn ngôn ngữ học nên cũng không đọc 2 cuốn sách trên của Noam Chomsky. Nhưng Giáo sư CXH lại dẫn chứng một câu trong cuốn Aspects of the Theory of Syntax (do nhà xuất bản Cambridge, Mass: MIT Press ấn hành năm 1965): “Chủ ngữ trong câu là một danh từ vô nghĩa, vì chủ ngữ là một từ chỉ quan hệ.” Vì tôi cũng không có điều kiện đọc cuốn sách này, nên đành suy đoán mò như sau. Trong những lần khai lý lịch, làm hộ khẩu, xin Passport… thì chúng ta vẫn gặp những chữ như “quan hệ, mối liên hệ đối với người khai báo.” Trong trường hợp này, chúng ta thường phải viết rằng người đó là cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị … của người khai báo. Do vậy, “quan hệ” ở đây hàm ý “công năng, mối liên hệ, phận sự…” Như vậy, mối quan hệ/liên hệ này rất quan trọng chứ không thể bảo là “vô nghĩa!” Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng “chủ ngữ trong câu là một danh từ rất có ý nghĩa và rất quan trọng vì nếu không có chủ ngữ thì bất kỳ một câu nào cũng đều mang ý nghĩa hàm hồ!
_________________
P. Kim Long
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
P. Kim Long



Ngày tham gia: 27 1 2007
Số bài: 122
Đến từ: Vietnam

Bài gửiGửi: Tư 9 04, 2013 10:24 pm    Tiêu đề: CÓ NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT KHÔNG? Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CÓ NGỮ PHÁP TIẾNG VIỆT KHÔNG?
Tác giả: P. Kim Long

5. Quy tắc làm thơ
Thơ phú có những quy tắc khá gắt gao khiến người làm đều phải tuân thủ, do vậy, chỉ có những thiên tài mới biết cách thích nghi với quy luật ngữ pháp một cách linh hoạt cũng như biết cách né tránh rất tài tình. Chính vì thế mới chỉ có một số thi phẩm độc đáo. Tuy nhiên, thi ca cho phép người dùng được “lách” quy luật ngữ pháp ở một mức độ nào đó.
Tôi cũng xin nói trước rằng tôi vốn không có khiếu làm thơ nên mấy bài thơ sau đây chỉ được lược dịch để Quý Bạn có thể hiểu qua ý của mấy bài thơ này mà thôi, do vậy, có thể những đoạn lược dịch có vẻ ngô nghê và hàm hồ!
Sáu câu thơ đầu sau đây của văn hào Victor Hugo (1802-1883) được trích trong bài Oceano Nox đề cập tới trận thủy chiến đẫm máu và anh dũng nhất của Hải quân Pháp đã chiến thắng và chôn vùi dưới đáy đại dương toàn bộ chiến hạm Armada Invincible của Đế quốc Tây Ban Nha.
“…Oh! combien de marins, combien de capitaines
Qui sont partis joyeux pour des courses lointaines,
Dans ce morne horizon se sont évanouis!
Combien ont disparu, dure et triste fortune!
Dans une mer sans fond, par une nuit sans lune,
Sous l’aveugle océan à jamais enfouis!...”
Tôi xin lược dịch như sau:
“Ô! Biết bao nhiêu là thủy thủ, biết bao nhiêu là thuyền trưởng
Đã hào hứng gia nhập vào những chuyến hải trình xa xôi,
Biến mất tiêu trong một chân trời buồn tẻ!
Đã biết bao nhiêu người đã biến mất, số phận buồn tênh và dữ dằn!
Trong một biển cả bao la không đáy, vào một đêm tối trời không trăng sao,
Chôn vùi dưới đáy đại dương chưa bao giờ được vùi lấp.”
Mỗi khổ thơ gồm 6 câu thơ mà mỗi câu thơ có 12 âm vận (pied = từ), đồng thời chữ cuối cùng trong mỗi câu thơ phải có vần điệu với nhau: câu 1 và câu 2, câu 4 và câu 5, câu 3 và câu 6. Xét về quy tắc làm thơ thì rất chỉnh, nhưng lại không ổn về quy luật văn phạm và cú pháp thì chỉ có 3 câu (câu 2, 3 và 4) là hợp lệ, còn những câu khác đều sai về ngữ pháp và cú pháp… Nhưng đây là thơ nên người ta có thể tạm tha thứ!
Sau đây là 4 câu thơ trong khổ 2 của bài “Il pleure dans mon âme” của Paul Verlaine (1844-1896). Trong khi ngoài trời đang mưa thì bất chợt Thi nhân buồn rầu nên đã ví trong lòng mình cũng sụt sùi mưa rơi.
“…Ô bruit doux de la pluie
Par terre et sur les toits!
Pour un coeur qui s’ennuie,
Ô le chant de la pluie!...”
Tôi xin tạm dịch như sau:
“Ôi tiếng mưa rơi thật êm dịu
Trên mặt đất và trên những mái nhà!
Cho một tâm tình buồn chán,
Ôi tiếng hát của mưa rơi!”
Cả 3 câu thơ (câu 1, câu 2 và câu 4) đều không phải là câu thực sự vì chỉ là một nhóm từ (chi câu) mà không phải là mệnh đề và chỉ có câu 2 mới thực sự là một câu vì có chủ từ và động từ đã được chia hợp với chủ từ. Nhưng đây là thi ca nên ta đành phải bỏ qua qui luật của ngữ pháp.
Sau đây là bài thơ “A Noiseless Patient Spider” của Walt Whitman (1819-1892). Bài này là bài thơ tự do vì thi sĩ Mỹ này vốn được coi là Tổ sư của thơ tự do (free verse). Thi sĩ đã mô tả tính kiên nhẫn của con nhện đã mải miết giăng tơ sau khi đã tính toán và cần cù giăng mắc được một mạng nhện trên một vị thế hiểm trở chông chênh.
“A noiseless, patient spider,
I mark’d, where, on a little promontory, it stood, isolated;
Mark’d how, to explore the vacant, vast surrounding,
It launch’d forth filament, filament, filament, out of itself;
Ever unreeling them -- ever tirelessly speeding them.

And you, O my Soul, where you stand,
Surrounded, surrounded, in measureless oceans of space,
Ceaselessly musing, venturing, throwing,-- seeking the spheres, to connect them;
‘Till the bridge you will need, be form’d -- till the ductile anchor hold;
Till the gossamer thread you fling, catch somewhere, O my Soul.

Tôi xin lược dịch như sau:
Con nhện kiên trì im lìm
Tôi nhận ra, ở trên một doi đất nhỏ, nó đứng biệt lập;
Đánh dấu thế nào để khám phá khoảng trống rộng xung quanh,
Từ chính thân mình nó phóng ra sợi tơ, sợi tơ, sợi tơ;
Mãi mãi xổ ra những sợi tơ – mãi mãi tăng tốc không hề mệt mỏi.

Và bạn, ô Trời ơi, nơi bạn đứng,
Được những đại dương không gian vây quanh, vây quanh,
Không ngừng cân nhắc, mạo hiểm, quăng đi -- vừa tìm kiếm những nơi để kết nối;
Tới cây cầu, bạn sẽ cần, đã được ấn định -- cho đến khi gặp chiếc neo dẻo mềm giữ chặt lại;
Cho đến khi sợi tơ nhện bạn quăng ra, bắt dính vào nơi nào đó, Hỡi linh hồn tôi.
6. Huyệt vị Châm cứu
Sau khi mãn nhiệm kỳ tại Bắc Kinh, Lãnh sự Pháp Soulié de Morant đã về Pháp để phổ biến kiến thức về châm cứu qua vài trước tác độc nhất vô nhị, cũng như một số Giáo sĩ Tây phương sang Trung Hoa truyền đạo đã học được nghề châm cứu rồi trở về cố quốc để xiển dương phương pháp trị bệnh không dùng phẫu thuật hay thuốc men. Rồi khoa Châm cứu đã phục hồi sức khỏe cho một số bệnh nhân đã từng được Tây Y điều trị song không hết bệnh. Sự kiện này vẫn không được Tây Y công nhận, trái lại đa số Bác sĩ Tây Y về thời đó đã luôn luôn tin rằng khoa Châm Cứu của Đông phương chỉ là một thứ “lang băm” vì họ cho rằng không hề hiện hữu huyệt vị/huyệt đạo trên cơ thể người ta. Họ vẫn nghĩ rằng huyệt đạo chỉ là một sự tưởng tượng phong phú của người Đông phương. Ngoài ra, họ thấy những người truyền bá kiến thức châm cứu lại không hề học Tây Y, hoặc chẳng biết một tí gì về Tây Y cả. Chính vì thế khoa Châm cứu đã không được phép hành nghề trên đất nước Hoa Kỳ: người hành nghề Châm cứu phải có bằng cấp Tiến sĩ Y khoa (Tây Y), hoặc Châm cứu sư phải cộng tác với một Bác sĩ Tây Y thì mới có thể hành nghề tại Hoa Kỳ. Ngay cả Châm cứu sư lừng danh tại Hong Kong là Ngô Huệ Bình (Wu Wei Ping) đã từng chữa khỏi chứng “bán thân bất toại, cấm khẩu” cho Tướng Lon Nol bên Cambodia vào năm 1973. Chính Bệnh viện Dã chiến của Hoa Kỳ hồi đó cũng bất lực với chứng bệnh này nên gia đình bệnh nhân đã cho người sang Hong Kong để mời Danh y này. Chỉ sau vài ba tháng chữa trị mà bệnh nhân đã bình phục: đi đứng và nói năng bình thường. Chuyện hy hữu này càng khiến vị Danh Y tin tưởng rằng mình đủ sức “đem chuông đi đấm xứ người,” do vậy, Ông đã sang Hoa Kỳ để hành nghề. Nhưng rất tiếc là hội AMA (American Medical Association) này đã coi như một thứ “lang băm” vô tích sự mà còn gây nguy hại cho bệnh nhân. Cuối cùng Ngô Huệ Bình đành phải từ giã Hoa Kỳ sau gần nửa năm vận động Y giới xứ này mà vẫn không được cấp giấy phép hành nghề châm cứu trên đất Hoa Kỳ!
Mấy dòng sau đây được tóm tắt từ bài Khí Công (Qi Gong) của Wikipedia để chứng minh rằng huyệt đạo và kinh lạc trong khoa Châm cứu là có thật.
Một số nhà bác học Âu Mỹ đã tìm đủ mọi cách trong phòng thí nghiệm để tìm ra sự hiện hữu của những huyệt vị cũng như của những kinh mạch. Sau nhiều lần thất bại, cuối cùng đã có vài ba nhà bác học thành công.
1. Tiêm chất phóng xạ
Tiến sĩ Jean-Claude Darras thuộc bệnh viện Necker tại Paris đã làm hai cuộc thí nghiệm song song:
1.1. Tiêm chất phóng xạ vào một số huyệt vị nhất định trên một số con vật “cobaye.” Sau đó Ông đã dùng máy quay phát sáng để theo dõi sự chuyển động của chất phóng xạ. Kết quả là Ông đã thấy được sự chuyển động của chất phóng xạ dọc theo những đường kinh mạch.
1.2. Sau đó Ông lại tiêm những chất phóng xạ này vào một số vị trí không phải là huyệt vị trên con vật thì Ông không thấy có sự chuyển động của chất phóng xạ trên.
Điều này chứng tỏ rằng có sự tồn tại của những huyệt vị châm cứu.
2. Đốt ngải nhung trên huyệt đạo
Giáo sư Popp, Tiến sĩ Schlebusch và Tiến sĩ Maric-Oehler đã đốt ngải nhung trên một số huyệt vị châm cứu để làm nóng chỗ đó. Sau đó họ đã dùng máy quay hồng ngoại để xem hướng chạy của kinh mạch. Kết quả là họ nhìn thấy được sự tăng nhiệt độ theo dọc kinh mạch đó. Thí nghiệm này đã minh chứng có một hệ thống kinh mạch mà khoa Châm cứu cổ đại từ 5.000 năm trước đã mô tả.
P. Kim Long
E-mail: pklong9@gmail.com
Saigon, 2011
_________________
P. Kim Long
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    UNCLENGUYEN.COM -> Vietnamese Legend & Folklore Thời gian được tính theo giờ MST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group