UNCLENGUYEN.COM UNCLENGUYEN.COM
(VUI LÀ CHÍNH)
 
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm   Đăng kýĐăng ký 
 Lý lịchLý lịch   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng NhậpĐăng Nhập 

Một số tên cây cỏ ở Bình định

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    UNCLENGUYEN.COM -> Văn
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
DangVanPhong



Ngày tham gia: 11 9 2011
Số bài: 56

Bài gửiGửi: Bảy 6 17, 2017 4:33 am    Tiêu đề: Một số tên cây cỏ ở Bình định Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Một số tên cây cỏ ở Bình định
Ai về Bình định mà coi
Con gái Bình định cầm roi đi quyền
Ca dao
Nước non cây cỏ giọng nói hình thành con người, đặc trưng cho từng quê hương xứ sở.
Tuy là vùng " đất võ trời văn ", nhưng nước non Bình định cho đến nay vẫn còn một số
tên cây cỏ " chưa mở mang" hòa nhập cùng tứ phương. Ai nói sao cứ mặc kệ,đất có
lề quê có thói,xưa bày nay làm,tên giữ chữ đặt vv...Nhất là ở thôn dã bản làng,dân
chúng cứ một mực nói năng cục mịch,...dẫu đổi đời, tên cũ chẳng rời,giọng nói không đổi !
Người lạ,du khách hay con cháu sinh trưởng nơi xứ xa, theo cha mẹ về quê nội- ngoại
Bình định,không khỏi phải bỡ ngỡ khi nghe dân địa phương nói một số tên cây cỏ
nghe lạ lẫm.
Nay, Xin mạo muội liệt kê một số tên cây cỏ ra đây để dễ bề phân biệt,nhận biết :
Bình định > Nơi khác
1- Rau trai > Thài lài
2- Rau Tía tô > Tử tô
3- E' tía/ xanh> Hoắc hương Một số tên 
4- Trái Mãng cầu Xiêm> Quả na
5- Cây thị> Cây tử
6 Cây dâu >  tang
7- Trái chua> quả dâu
8- đỗ phụng/phộng> đậu lạc
9- Cây thù đâu> cây sầu đông
10- trái đào lộn hột> quả điều
11- Bông ổ màu/tàu> Hoa ngũ sắc
12- Củ sắn nước> đậu sắn 
13- cây thù dầu> Cây thầu dầu
14- Cà dược/ Cà độc dược > Cây/hoa cứt lợn .
15- Cà chình > Cà dái dê
16- cây hổ ngươi/ mắc cỡ> trinh nữ
17- Cây đào > ?
18- cây thuốc cứu> Ngải cứu
19- Bông mồng gà> Hoa mào gà
20- Bông nở ngày> Hoa mười giờ
21- Trái Xay/ say> Quả gấm
22- Dây chùm bao/ nhãn lồng> Lạc tiên
23- Cây lụa áo/ nút áo > Bông cúc áo
24- Lá dang/gian> lá chua/lá vang
25- lá thúi địt > Lá mơ
26- trái mận > Roi
27- Trái ổ qua> Khổ qua
28- Hồng phấn> Tường vi
29- Cỏ mực> Nhọ nồi
30- Rau diếp cá > Rau mùi cá
31- Ngò tàu> Ngò gai
32- Rau cúc > tàng ô
33- Mộng dừa/phổi dừa > Phôi dừa
34- Cây gia > Cây đa
35- điệp tây> Phượng/phượng vĩ
36- Mè > Vừng
37- cây dừng> Lộc vừng
38- Chuối tiêu> Chuối ngự
39- Rau sam > Rau sâm
40- Lác> Cói
41- Trái trứng gà> ô ma
42-Cây bông bay > cây cộng sản
43- Hoa ngâu > Nguyệt quới
44- Cây vông tây > Bã đậu nam
45- Cây/lá ngái > Lá meo
46- Vông/dông đồng > vông nem
47- Nàn hai tía > Cây chết người
48- Cây ngũ trảu > từ bi
49- Cây dò nước > Cừa nước
50- Bèo Nhật bản > Lục bình
51- Hoa lồn/ đỗ bướm > đậu bướm/ Nụ tầm xuân
52- Trái chim chim > ?
53- Dú  dẻ > Duối dẻ
54- Cây cúc quì > dã quì / hướng dương dại
55- Cây/trái nhàu  > ?
56- Cây dầu rái >?
57- Chuối chác > chuối hột
58- Cây trảy > ?
59- Dây kim cang > ?
60- Cây đùng/tùng đình > ?
61- Bông sứ > hoa đại
62- Cây tảo nhơn > ?
63- Rau bợ > ?
64- Dây chiều > ?
65- dây gắm/ trái gắm > ?
66- Mắt mèo ma > ?
67- Cây canh kí na > ô môi
68- Cây mù u > Bạch mai nam
Và vv... còn nữa !
Tại sao tên gọi không đồng nhất ?
Cho đến nay cũng chưa thấy ai trả lời nổi,là tại sao dân Bình định lại còn " sở hữu " lắm tên
cây cỏ nghe khá lạ,không thấy nơi nào như vây cả, Có một số ngành khoa học chen vào giải mã.
Nhưng chỉ có khoa học lich sử đưa ra dẫn cứ qua sử liệu là hay hơn cả. Do tại,vì là ... ?
Xưa,Bình đinh là tỉnh biên trấn có đồn biên trấn đạt tại đèo Cù mông. Sau khi đánh chiếm được thành
đồ bàn,đế đô Chăm pa vào năm 1471, vua Lê thánh Tông lệnh đưa một số đông Việt tộc vào lập nghiệp,sống chen cư cùng dân Hời còn ở lại.Cuộc sông chen canh chen cư rồi cộng cư Việt-Chăm trong suốt gần 200 năm,cho đến khoảng giữa thế kỉ 17, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mới xua dân quân vượt đèo
Cù mông,và nối tiếp sau đó là các Chúa Nguyễn đàng trong cùng nhau mở mang trên đường Nam tiến...
Mãi đến thời kì nhà Tây sơn, Nguyễn Nhạc lên ngôi,Thái đức hoàng đế, năm 1771. Rồi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc,
Phù Lê diệt Trịnh,phá tan chiến lũy sông Gianh,chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh- Nguyễn, đàng trong đàng ngoài,thống nhất đất nước, đem giang sơn về một dãi. Ta thấy Bình định là vùng đất mang ấn tích lich sử đặc thù, lưu dân luôn chuyển đổi,kẻ đến người đi liên tục : Anh về Bình định thăm cha,Phú yên thăm mẹ, Khánh hòa thăm em,là câu ca nói lên cảnh lao đao,rày đây mai đó
của nhóm cư dân tứ chiếng trên vùng lãnh địa Chăm quốc thời xa xưa. Cho đến ngày nay, Phú yên và Bình định là hai tỉnh tiếp giáp nhau,có cùng giọng nói và tên gọi cỏ cây thảo mộc trùng hợp nhiều
nhất. Có người cho rằng,cùng sống trên vùng đất mới gồm toàn sắc dân xa lạ,thì tự " chế"
ra tiềng nói, tự đăt tên mới cho mọi thứ là tất nhiên. Vả lại lúc ban đầu mới sau dần,xài lâu ai ai cùng hiểu,chấp nhận của chung !
Trên đây chỉ là những di chỉ của thời gian,như thế cũng tạm thấu đáo. Tuy nhiên ta phải công nhận một phần tâm trạng người xưa luôn đọng vào hồn sông núi,lưu danh vào cỏ cây,làm nên tấm áo gấm vóc,đẹp đẽ biết bao : Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo ...mãi còn vang bóng?
+ Người xưa đặt tên cây cỏ theo lối nào ?
Có nhiều lối đặt tên,phần lớn đều theo 1 trong 4 mục như dưới đây :
<1>- Hình dạng đặc sắc của từng bộ phận lá bông trái hột củ rễ.
<2>- Tính chất lành dữ,độc hại, ăn được,bổ dưỡng nên thuốc
(3)- Hương-vi : Hương thơm ngon, vị đắng cay chua ngọt.
<4>- Và, nhất là theo tên xưa,tuồng tích để lại .
+ Phần phụ chú:
Theo bản liệt kê trên đây gồm gần 70 tên gọi .
Sau đây tôi xin mao muội chú giải một số tên gọi theo theo cách dân gian và thiển ý của tôi, người quê người quê xứ Nẫu.

1- Rau trai > thài lài
Luột ăn không ăn sống. Thân dây bò trên đất,rễ mọc ra theo  từng đốt thân,mọc thành từng bãi ven bãi
bàu gò mả,chen nhau cùng cỏ dại. đặc biệt chỗ nào có cứt chó ỉa,rau lên ngọn xanh tốt lạ kì . Có câu : Thài lài gặp gặp cứt chó.
3- E' tía/xanh > Hoắc hương
Rau thuộc nhóm rau mùi,ăn sống. Do trồng hay mọc hoang ở các bãi gò. Lá có mùi thơm, thường trộn chung với các loại rau khác tạo món rau sống. Lá giã với muối, ơt bay + nước cốt chanh = Nước chấm, chấm rau lang luột
trong bữa cơm ở thôn quê vào tiết đông lạnh lẽo. Hột é nhỏ li ti như hột cải,ngâm vô nước hột nở lớn.thêm chanh đường thành li nước é uống đã khát mùa hè.Cành lá é còn kết hợp với mấy loại lá khác như sả ,lá tre, lá mãng cầu,lá chanh bưởi tạo nên nồi nước xông,xông tắm cho quí bà nằm chỗ còn trong tháng. Hoặc xông cho ra mồ hôi chữa cảm mạo thương phòng,tương hàn,hay lắm ! Hoặc giả gặp phải chứng đau bụng tiêu chảy do hàn thực thì sắc chung với gừng lùi,uống vài ấm là khỏi ngay. Có câu,
đau bụng lấy bụng mà chờm
Nhược bằng không hết hoắc hương với gừng .
4- Mãng cầu xiêm > Quả na
Tại chỗ linh thiêng,dưới gốc cây cao bóng cả,bên ngoài am miếu,chùa chiền thường có Na. Na nhỏ
chỉ đủ trần thiết nải chuối,lư hương cắm nhang cầu cúng,là chỗ cầu cúng phụ khi chưa vào được chính điện thờ bên trong.  Quả na trông ra hình dạng cái na thu nhỏ. Ngoài ra,đèo mang bế ẵm cũng có nghĩa Na :  Chị na em bé đi ăn xin khắp chợ .
5- cây thi > cây tử.
Thị = mắt,trong thị giác, thị thực
Tử= Con, trong tử con tôn cháu
Cây thị thuộc cây danh mộc, gốc to thân cao trên chục mét,lá xanh mùa thu không vàng lá,trái
chin màu vàng ươm thơm ngon. Quả thị hình tròn tròn y hệt cầu mắt ( tròng mắt,mang ý trông coi canh chừng ? )
Xưa, người ta hay trồng cây thị trước sân, tàng thị cho bóng mát cho lũ trẻ vui chơi,có ý chỉ cái bóng
của cha che chở,canh chừng đàn con,chỗ dựa an lành !
Bên cạnh cây thị còn có cây dâu (= tang ),chỉ người mẹ tảo tần nông tang, canh cửi ...nuôi con.
Truyên Kiều,lúc Kiều lưu lạc xứ người nhớ về song thân nơi cố thổ, có câu :
Xót thương muôn dặm tử phần
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
(Tử phần : quê cha ; Gốc tử : gốc thị )
đây chẳng qua nhắc lại tích cũ, ngày nay hầu hết đều kêu cây thị,rất ít người kêu cây tử.
7- trái chua/ trái dâu
Cây mọc hoang trên rừng,không thấy trồng trong vườn nhà như ở miền Nam. Trái dính thành chùm dài mọc ra tử thân gốc cành nhánh. Trái tròn cỡ ngón chân cái trẻ nhỏ, trái có loại màu hơi vàng và  loại màu đo đỏ,ăn thấy chua ngọt,chua loét . Không biết sao người trong Nam gọi trái dâu. Có người nói mò rằng,làm dâu về nhà chồng nuông chiều đến cả trăm họ khổ sở ..chua xót ? Nên có tên trái dâu . Cũng là cách nói quàng tránh nói thẳng gây sợ (chua ! ), hoặc trái này con dâu có chửa thich ăn?
8- đỗ phụng/ phộng = đậu lạc
Nẫu kêu đỗ phụng hay đỗ phộng, nhưng kêu dầu phộng không kêu dầu phụng. Cây đâu phộng
nở hoa trên mặt đất nhưng lại ra trái dưới mặt đất,hoa giống hình chim phụng ( chim trĩ ) màu vàng rực rỡ. Ngoài Bắc kêu Lạc,có lẽ hoa cũng giống hình chim lạc ( chim trên trống đồng
Ngọc lữ ) chăng ?
9- Cây thù đâu = Cây sầu đông.
Là cây đặc biệt li kì. Xin mời đọc thêm tại :http://unclenguyen.com/viewtopic.php?t=4273&highlight=
mục, Cây thù đâu ở Bình định &...
11- Hoa ổ màu/tàu = Hoa ngũ sắc.
Nẫu,một số rất ít người lớn tuổi ở vùng thôn dã vẫn còn kêu cây ổ màu, nhưng đa số kêu cây ổ tàu.
Hoa có năm màu nở ra giống như ổ cu/quạ.
14- Cà dược/ cà độc dược > Hoa/ cây cứt lợn
Nẫu kêu heo,không kêu lơn. Hoa/cây cứt lợn mới nghe nói nhiều qua những chuyện kể của cán
bộ tập kết, bộ đội vào Nam . Rằng, cây hoa cứt lợn chính là cây cà độc dược. Cây này được các chính trị viên trung đội giới thiệu tường tận đến tất cả bộ đội " sinh Bắc tử Nam ". Vì cây có độc tính cao, ăn phải gây hoảng loan tâm thần, nặng có thể gây tử vong. Mô tả, cây mọc hoang khắp nơi gò buội mé núi ven bờ sông bãi suối,mọc lan tràn cả đám. Xuân hè sinh trưởng khỏe,cuối thu tàn úa chết đông. Hoa màu trắng hình loa kèn giữa có chày ( cặc ) nhị màu hơi vàng khi hoa gần tàn nhị này mới chuyển sang màu xanh đậm đen,phấn nhị rả rơi rụng dính trên vành loa trắng,y chang màu cứt lợn chính lúc này ngửi thấy mùi thúi cứt heo . Danh xưng cây cứt lợn để cảnh giác con người chớ dùng, ai lại ăn cứt lợn !
16- Cây hổ ngươi/ mắc cỡ > Trinh nữ
Thường thấy có 2 loài,
 Một,Loài mọc bò rài trên mặt đất mọc thành buội từ một gốc lan tràn ra bốn phía,hoa đỏ tím hình
tròn có cuống,lá xếp lai khi bị đụng và rồi mở ra .
Hai,cũng  như trên nhưng một gốc một cây, biến thành dây bò cao lên buội,bá leo dựa theo cây
rừng vươn cao, đặc biệt mọc nhiều ở Tây nguyên Gia lai kon tum. Bài hát " Hoa trinh nữ " của nhạc sĩ Trần thiên Thanh,là trinh nữ ở nơi này.
17- Cây đào > ?
Cây cao to thuộc cây rừng. Vùng quê thường trồng trước ngõ để có bóng mát. Lá hình thù như lá xoài nhỏ,hoa nở mùa xuân hè , nụ hoa nở ra tua sợi dài,tua rụng hết đậu thành trái. Trái có dạng quả sim,to cỡ ngón chân cái trẻ nhỏ. Quả chin màu hồng nhạt,thơm ngọt nhưng rất mỏng cơm,có hai hột bự. 
21- Trái xay/say > quả gấm
Gỗ cây xay/say màu đỏ bầm, đặc biệt rất cứng dẻo,là cây danh mộc liệt vào hàng cây gỗ quí hiếm như Trắc ( tắc ),liêm, hương,cò te. Dân Bình định, Phú yên rất  chuộng gỗ say tiện che đạp mía nấu đường. Một bộ che gồm 3 che có nhông răng cưa, che cái to cao đứng ở giữa hai bên hai che con to như nhau. Che cái bị tròng trên đầu dây nài da trâu thăt chặc vào hai cây đòn gánh tròn to bắp vế, dài trên 2m5,mắc vào ách cổ bò /trâu mỗi con mang mỗi đòn,đi vòng quanh vòng tròn chòi che,cho che ăn mía chảy ra nước chè (mía  ).
Cây xay/say ra trái vào xuân,cuối thu trái chin có màu gấm,trong áo gấm đi đêm. Bắc kêu quả gấm.
Say- sưa,không biết có bà con gì không. Chứ gỗ cây Sưa nay bạc tỷ,kí gỗ kí tiền ! Say- sưa nghĩ cũng hay đời !
27- trái ổ qua = khổ qua/mướp đắng.
Khổ= đắng; qua = dưa/mướp. Nên có tên mướp đắng .
23- Cây lụa áo/ nút áo > Bông cúc áo
Thuộc cỏ dại. Mọc hoang khắp vườn tược,ra hoa mùa xuân thu đông cây tàn rụi. Hoa như hoa cúc kim ( kim cúc ) màu vàng vải lụa,hình dạng y chang hột nút áo tròn ( cúc áo ) của áo dài nam nữ xưa.
Thử nhăm nhắm một cái bông thấy cay the the,thơm thơm lạ lẫm .
Nét riêng là cuống nụ hoa khá dài, dài trên gang tay,vươn ra khỏi chỗ bị che khuất ánh sáng.
32- Rau cúc > tàng ô
Rau trồng,ăn sống hay nấu luột. Hoa tròn như đồng Xu,nhụy vàng cánh hoa vàng vây tròn bao quanh nhụy,hơi ló lên,trông như tàng lọng/dù che. Mang tên tàng ô.( ô= dù )
33- Mộng dừa/phổi dừa = Phôi dừa.
Xứ Quảng ngãi có nghề làm đường phổi,đường miếng lớn hơn bàn tay xòe, màu trắng đục,
ăn ngon giòn ngọt đặc biệt,được làm từ mộng lúa,bắp... Mộng của ngũ cốc,có nơi gọi là phôi như
phôi thai ở người. Dân bình định và Quảng ngãi ít dùng từ phôi,từ phôi không mấy phổ thông nên
phôi đọc thành phổi,đường này ăn bổ phổi,thế là có tên đường phổi,tới dân phía nam Bình đinh
ở miệt biển " Dũng giã ",kêu đường phẩu !
34- cây gia > cây đa
Nẫu kêu cây gia không kêu cây đa.
Cây mọc thành quần thể buội to cao lớn,mọc hoang hay trồng trước cổng làng,sân đình,chùa miếu,
bến đò. Rễ mọc từ thân cành lòng thòng phất phơ rồi đâm xuống đất. Xưa, cây đa bến đò là cặp đôi
không thể tách rời.
35-điêp tây = Phượng/phượng vĩ.
điệp = bướm. Hoa giống hình con bươm bướm,cũng giống hình chim phưọng bay xòe đuôi (= vĩ ),nên có tên phượng vĩ.
37- cây dừng = lộc vừng.
Hoa ra tua dài màu đỏ tươi lấm tấm như mè/ vừng, nên có tên lộc vừng. Bắc rất hay trồng cây này để làm cây kiểng,có ý cầu tài lộc.
40- Lác = Cói.
Cây lác/ cói phơi khô dệt thành tấm chiếu. Như trong bài thơ tương truyền Nguyễn Trãi gặp thị
Lộ lúc còn con gái bán chiếu dạo :
Nàng ở đâu mà bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh nay đã bao nhiêu tuổi
đã có chồng chưa,được mấy con ?
Nàng đáp
Em ở Tây hồ bán chiếu gon
Cớ sao lại hỏi hết hay còn
Xuân xanh nay đã trăng tròn lẻ
Chồng cón chưa có,nói chi con ?
Tưởng cũng xin nói thêm, cói đem xay nhỏ qua công nghệ ép thành từng miếng mỏng,sau
làm ra mũ/nón . Nẫu kêu mũ cối/ cấu như cối chày giã. Hiện nay phổ biến kêu mũ cối !
13- Cây thù dầu = Cây thầu dầu
Xưa,Người ta ép hay nấu quả thù dầu lấy dầu làm dầu nhớt bôi trơn động cơ,trục máy,trục
bánh xe. Dầu này có độc ăn phải gây tiêu chảy ngộ độc chết người. Cùng với các cây độc khác
như thù đâu,cà độc dược,trái kén ...mang tên thù,độc,kén ( không chọn !) có ý cảnh giác con
người ta chớ dùng
22- Dây nhãn lồng/chùm bao =Lạc tiên.
Trái có tua râu bao xung quanh giống cái lồng ở giữa có con mắt (= nhãn ). Trái lá ăn được,dây
băm nhỏ phơi khô sắc nước uống nên thuốc, làm điều hòa nhịp tim,cảm thấy an lac tâm thần. Nên có tên Lạc tiên.
41- Trái trứng gà = ô ma.
Trái tròn dú chin màu vàng trứng gà , ăn bùi ngọn như long đổ trứng gà luột,hột cũng tròn màu vàng nâu có con mắt trắng to bự.
42- cây bông bay = cây cộng sản ?
Cây mọc khắp đồi núi,cây không cao chừng ngang đầu,bông tí tẹo, già khô màu trắng phát tán
tứ phương theo gió thổi. Nhai đọt non thấy có vị chác ngắt,hàm lượng tanin cao. Là cây thuốc, chữa tiêu chảy,cầm máu vết thương. Bộ đội cụ Hồ rất am tường,cây mọc khắp nơi ven rừng,nên
có tên cộng sản, mang ý cây phe ta bên phía ,nên quan tâm để ý . 
43- Hoa ngâu = Nguyệt quới
Hoa vàng nhỏ như hạt mè,sung  mãn mùa bông vào cuối hè sang thu,ướp trà mùi thơm ý vị ngot
ưa lắm. Màu vàng đăc trưng, mùa hoa trùng với mùa trăng thu, vàng ươm một dãi rừng  ngâu,
trổ lên đẹp náo nùng,sáng lạn màu trăng trong buội,lộng nguyệt ! Quới = quí,đẹp trong quí nhân=
quới nhân. Nguyệt quới : màu trăng đẹp .
44- Cây vông tây = bã đậu nam
Trái già to chừng nắm tay,phơi khô lột vỏ là có được cái bánh xe răng cưa chế thành đồ chơi
cho bọn con nít. Hột tròn  như đông xu,bẻ hai thấy cơm màu trăng trắng,nếm thấy như có dầu vị
nhão nhẹt,không ngon. Chất độc nằm tại hột,ăn phải gây tiêu chảy,ngộ đôc !
45- Cây ngái = lá meo
Trái chùm như sung,lá có lông nhám nhiều ở mặt dưới lá, không ăn được. Người ta hay lấy lá
đậy lên mặt nia ủ men rượu hay men tương,thì meo lên rất đạt, nên có tên Lá meo .
46- Cây dông/vông đồng = vông nem.
Toàn thân cây mọc toàn gai,lá gói nem chua.
47- Nàn hai tía > cây chết người
Thuộc loài cỏ dại,mọc lan tràn khắp nơi, có hai loại cây nàn hai,một loai bông trắng một loại cây có màu đỏ tía hoa cũng đỏ , xuân xanh tốt thu đông tàn chết. Bộ đội bác Hồ được nhắc nhở cho biết để tránh không
hái ăn và nhất là hái lá  nàn hai đỏ chùi đít ỉa,có độc gây ngứa lỗ đít phát khùng,nên có  mang tên cây chết người, có ý cảnh cáo .
48- Cây ngũ trảu > Từ bi
Cây phân nhánh mọc thành buội khắp các bờ sông bãi buội,lá có mùi hôi thừơng dùng un khói xông  muỗi chuồng bò/heo lúc chiều tối. Trái chin khô màu đen nhỏ hơn hạt tiêu,thuốc nam gọi hột từ bi .
49- cây dò nươc > Cừa nước
Cây cao to mọc thành quần thể buội gần bên bờ sông lạch suối,và cứ sinh trưởng tràn ra khỏi bờ ra tới nước. Rễ mọc từ thân trên cao tủa lòng thòng xuống dưới tìm về chỗ mặt nước rồi đâm thẳng xuống đất thành rễ ,rễ to thành thân cây. Trồng nhiều ven bờ sông Hà thanh để che chắn lũ lut .
50- Hoa lồn/ đỗ nứng >  đậu bướm
Thuộc loài dây leo. Mọc leo quấn vào hàng rào,có ngườ trồng làm giàn chơi kiểng trước sân, mái ngõ.Hoa nở suốt xuân hè,sang đông tàn rụi.Hoa đơn màu xanh tím,hình dạng như con bướm,cái lồ...
trông quá ư lãng mạn,trái khô có hạt tròn cỡ hạt gạo, màu vàng đen đen. Có người đồn lấy hạt sắc nước uống như
nước chè,sinh thái được thỏa mái tầm dục,nứng... ! Có bài hát đối đáp nam nữ,như sau :
Nam hát,
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng anh tiếc lắm thay !
Nữ đáp,
Ba đồng một miếng trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không ?
Bây giờ em đã lấy chồng
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra ! ./.
52- trái chim chim > ?
Mọc hoang thành buội,ở gò bãi ven bờ sông mé rừng. Ra hoa mùa xuân,trái chin hè thu. Hoa nụ
dài màu hồng hồng khi chưa ở hình mỏ chim . Trái kết chum chin đỏ tươi,mỗi chùm từ 3-5 trái,trái dài có ngấn
như trên ngón chân chim,ăn ngọt ngon,bỏ hột.
53- trái dú dẻ > Duối dẻ
Cũng  như Chim chim nhưng trái và hoa khác chim chim. Nụ hoa màu vàng hình thù như cái
dụ/vụ có cuống ngắn,có thể bung chơi như dụ,hoa nở có mùi thơm rất đạc biệt. Trái chùm,mỗi 
chùm 3-5 trái tròn hơi dài to cỡ ngón tay út,chín vàng ăn ngon ngọt, bỏ hột. 
54- Cây cúc quì > Dã quì / hoa mặt trời/ Hướng dương dại.
Mọc hoang thành bãi buội. Sinh trưởng tôt ở các tỉnh Tây nguyên Gia lai, Daklak,Kontum. Hoa nở vào xuân hè,màu vàng cả bông hoa luôn quay về phía mặt trời suốt ngày. Cuối thu- đông tàn lụi,bông không đậu quả,không có hột !
55- Cây/trái nhàu > ?
Cây mọc hoang hoăc trồng lấy trái. Lá to như bàn tay,cao tầm cỡ cây ổi bát quạt. Trái tròn dài to cỡ can rựa,có u nần như mắt lá mổi lên. Thường thấy dú trái trong hũ muối hột,chín có mùi hôi nhăn
mặt,khó ăn khó nuốt . Vỏ thân rễ đều có độc,thuốc nam dung chữa thông máu ,tán huyết ? Kêu tên nhàu,có lẽ do mùi trái chin hôi, nhăn mặt khó chịu, nhàu nhò = không vui ?
56- Cây dầu rái >?
Thuộc cây rung cao to nhưng không phải cây gỗ dầu thông dung. Moc hoang trên rung đèo Cù mông tiếp qua rung Phú yên. Xưa,cây này bị cấm chặt phá khai thác. Cây được thuần dưỡng canh giữ để lấy dầu. Xẻ rãnh lấy dầu giống như rảnh lấy mủ cao su nhưng phải đốt hơ tại rãnh để dầu chảy ra ,kêu là hơ dầu. Dầu rái dân nghề biển rất coi trọng, dùng trét ghe,thúng,thuyền sõng. Nay,dầu rái không còn thông dung nữa, từ khi có dầu hắc thay thế.
58- cây trảy > ?
Thuộc họ tre, trúc . Trồng hoặc  mọc hoang thành buội như buội tre,khác tre ở chỗ cây trảy không có gai,cây
nhỏ cỡ cán rựa,bắp tay là cùng. Thường dùng cất giàn bầu bí hay cất nhà ở nông thôn.
59- Dây kim cang > ?
Dây mọc đầy ở núi hòn Dồ,hòn Triều. Dây dài cứng cát,nhỏ cỡ đầu đũa trở xuống. Dưới chân hòn Triều xã Phước an có xóm chuyên đan thắc rế kim cang,chờ phiên chợ cây Gia ( Diêu trì ),dậy sớm
canh ba quảy xâu rế xuống chợ bán sỉ đi khắp các chợ. Tên kim cang, kim trong kim bằng ( = bạn vàng ), cang trong tam cang ( = 3 giềng mối chính )
60- Cây đùng/tùng đình > ?
Cây thuộc họ cau nhưng không cao như cau. Mọc hoang thành buội dọc theo bờ sông khe suối,gần nước sinh trưởng tốt. Bẹ rụng để lại từng đốt trên thân,hoa nở ra từ cái bọc/bẹ như hoa cau,trái không ăn được.Lá mọc ra từ cành nhỏ,thường hay kết hợp với cành lá ngâu trang trí,cột bó vào cây trụ tại các cổng chào đám cưới,đám hát đình miễu, tăng thêm phần long trọng . Tên đùng/tùng đình trong " tiệc tùng,linh đình " ?
62- cây tảo/táo nhơn > ?
Cây cao to cỡ bắp vế ít thấy to hơn,suông óng ít bị phân nhánh,cây lâu năm có lõi đỏ như gỗ tắc. Cây mọc hoang dã thành đám,hay lấy hột gieo  trồng làm hàng rào. Người ta thường chặt ngang mặt rào để lấy 2-3 nhánh  mầm ,mầm dài sau vài năm là thu chặt lấy củi hoặc làm  giàn bầu bí, cây chái dưa leo đậu đũa,tùy ý. Lá xếp mở như lá mắc cỡ,suốt bỏ cộng trộn cám cho heo ăn. Trái dài cỡ ngón tay trỏ
mỏng dẹp,có chừng trên dưới chục hạt,hạt nhỏ cỡ nửa hạt dưa hấu,còn non ăn được.Lấy hột già rang vàng sắc nước uông như nước chè làm dịu thần kin dễ ngủ,có người gọi tên táo nhơn nam.
63- Rau bợ > ?
Rau này dường như không trồng,mọc hoang mé nước bờ mương lạch suối.Thật ra tôi chẳng biết cây này ra sao,nhưng thấy câu hát ru em,
Mẹ già như chuối chin cây
Nấu canh rau bợ rán nuôi mẹ già.
64- Dây chiều > ?
Dây mọc hoang trên rừng núi,thành buội hay bá leo lên cây rung.Là nham nhám,vỏ dây dày màu nâu đỏ. Cây dây này đăc biệt được dạy trong các quân trường,trong  bài chiến thuật thoát hiểm mưu sinh
( survival ).  Khi bị lac trong rừng khát nước thì, tìm  dây này chặt phía dưới xong chặt nhanh ngay một đoạn dây phía trên cách chừng 1,5m, sẽ thấy nước từ trong dây phía dưới rịn chảy ra nhỏ giọt,tu miệng uống đỡ khát,không độc .
65- Dây gắm/ trái gắm >?
Có hai thứ dây, dây trường và dây gắm,dây trường màu đỏ bã trầu,dây gắm màu gấm cũ màu.
Cả hai đều rất ư là dẻo dai chắc,dân thợ rừng rất khoái dùng kéo gỗ xuống núi . Riêng trái gắm khi già có
hột màu vàng,hình thù như viên thuốc nhộng bằng đầu đũa mun. Muốn ăn phải bắc chảo lên rang cho chin,để nguội nhai thấy còn dẻo răng,vị đăng đắng ngon ngon,ăn nhiều có thể gây say say khó
chịu.
66- Cây gai Mắt mèo >?
Cây gai mọc bò hoang ở bờ gò trãng núi. Cả cây  lẫn lá đều ra gai nhọn rất sắc,móc gai kéo ngược,móc vào áo quần rồi vào da đau điếng hồn. Trái có 2-3 hột,hột tròn tròn y hệt mắt con mèo. Còn có tên một loại mắt mèo nữa,đó là Mắt mèo ma. Mắt mèo ma là dây leo,leo bá vào các cây hoặc dây khác tại các  bãi gò hoang buội rậm. Trái y chang trái cây gai mắt mèo,hột già khô cũng có hình con mắt mèo. Chú ý chớ đụng vào lông tơ trên lá và trái,ngứa sần da !
 67- Cây canh kí  na > ô môi
Cây cao to cỡ cây bồ kết. Trái tròn dài chừng trên nửa mét, to cỡ cán dao liêm, vỏ cứng màu đen đen. Trái đập bể thấy cơm màu bầm đen, ăn có vị ngọt,mùi thơm rươu canquina. Hồi Pháp thuộc làm rượu này từ trái ca ki na. Có lẽ tên ô môi là do ăn dính vào môi làm đen ( ô ) môi ?
68- cây mù u > Nam bạch mai
Cây to cao gốc có thể hai người ôm, mọc hoang ở mé rừng,hay trồng trước miếu ,chùa chiền,sân đình làng. Xưa,
Tại miếu Phường đông, thôn Diêu trì,có cây mù u cổ thụ tuổi trên năm,tàng lá phủ cả mái nhà miếu. Rễ cây nổi lên mặt đất bò ngoằn ngoèo như con lươn bò trườn . Dân chúng đi ngang ai cũng ghé ngối hóng chút bóng mát.Tiếc thay cây này đã bị di dời đii đâu không rõ,vào khoảng đầu thập niên 1970 ?!  
Xuân hè ra hoa. Hoa màu trằng có cánh nhỏ giữa có chùm tua râu nhị ra dài cũng màu trắng,
trắng tinh khôi ! Trái tròn vo lớn cỡ ngón chân cái trẻ em,không ăn được. Là cây đặc sắc thân quen
với người thôn làng. Có câu hát ghẹo :
Cây mù u trái cũng mù u
Vợ chồng cãi lộn, con cu giải hòa !
Sao có tên mù u,nói thật vẫn mù mờ,mù ...uuu ! Dân Nam kì lục tỉnh kêu cây mai trắng : Nam bạch mai.
Quí trọng ngưỡng mộ cây này nhiều lắm đấy.
 Mỗi xứ sở,cây cỏ thường thay đổi tên gọi
sao cho phù hợp với phong tục,tập quán bản địa. Xưa,  còn có câu : Mộc tùng phong,văn tùng thổ .
Có xứ nào chẳng có cây cỏ . Cây sinh ra trước con người sinh ra sau ...
Biết thêm một  cây cỏ nữa  là có thêm một người bạn mới,cuộc sống sẽ thêm thi vị,đầy hương hoa cỏ lạ .
& Nhớ về cố thở,bao kẻ tha hương còn chút bồi hồi,
Cây cách trùng dương,xa mà nhớ
Người ở bên trời,nhớ vẫn xa ...!
.//.
Rất cảm ơn đã lướt qua!
Giaphong*
Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    UNCLENGUYEN.COM -> Văn Thời gian được tính theo giờ MST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by phpBB © 2001, 2005 phpBB Group